SUY TƯ VỀ NIỀM TIN KITÔ GIÁO

Có một sự thật rất nghiệt ngã, một đời người, dù giàu sang quyền quý, chức cao vọng trọng hay thấp cổ bé miệng, nghèo khó cơ cực…tất cả đều có chung một kết cục cay đắng: Chết. Một đời người, gắng gượng mấy đi nữa cũng cao lắm ba vạn sáu ngàn ngày, hay như ngôn ngữ của thánh vịnh diễn tả: mạnh giỏi chăng là được tám mươi mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ (Tv 90,10). Có lẽ vì vậy mà giới trẻ ngày nay tấm tắc: sống một kiếp người bình an là được, tiền ít tiền nhiều đủ tiêu là được, trẻ hay già khỏe mạnh là được. Cái kết nghiệt ngã của phận người khiến chúng ta không khỏi chất vấn cuộc sống – thực sự thì nó có ý nghĩa gì, có cái gì đáng trân quý khi mà tất cả rồi cũng đều trôi vào dĩ vãng? Xuyên suốt chiều dài lịch sử nhân loại, con người vẫn không ngừng đi tìm lời giải đáp cho vấn nạn này, cũng từ đó mà phần lớn các tôn giáo được sinh ra. Vậy, có thật rằng niềm tin là cứu cánh cho cuộc đời này không? Kitô giáo cách riêng không trả lời trực tiếp nhưng mở ra cho tất cả mọi người cơ hội để kiểm chứng, và hơn nữa chính Thần Khí Thiên Chúa dẫn dắt đến chân lý những ai muốn tìm kiếm sự thật toàn vẹn. Bài suy tư ngắn này không chủ đích biện minh cho Kitô giáo nhưng là sự bộc bạch của một con người giống như bao người khác cũng luôn canh cánh đi tìm kiếm ý nghĩa cho cuộc đời của mình.
Sống có ý nghĩa hay mất phương hướng ?
Chúng ta vẫn thường nghe nói và tin nhận rằng, sống có ý nghĩa là sống tốt, sống đẹp. Nhưng thực tế như thế nào mới là sống tốt và sống đẹp? Luân lý có thực sự là vĩnh cửu? Có người cho rằng, sống tiết độ, hy sinh vì người khác là đáng sống; nhưng trở lại vài thế kỷ trước, Aristippus of Cyrene từng khẳng định, hưởng thụ và khoái lạc mới là điều đáng làm nhất trong cuộc đời[1], và cho đến ngày nay, vẫn không ít người cho điều đó là chân lý. Cũng thế, tôn trọng sự sống có luôn là điều được bảo đảm trong mọi trường hợp không khi mà ngày nay người ta vịn đủ lý do để giải quyết những sinh linh bé nhỏ, hay là giảm bớt đau khổ cho một người khi “giết chết” họ bằng một “cái chết êm dịu”. Luân lý dường như không phải là thành lũy bất khả xâm phạm. Công bằng cũng chịu chung số phận, cán cân công bằng của xã hội vẫn có thể thiên lệch. Bất công chẳng phải là điều gì đó khó thấy trong cuộc sống của chúng ta. Đó là lý do đâu đó chúng ta vẫn thường nghe những lời thốt lên thật cay đắng, thật thà thẳng thắn thường thua thiệt, lọc lừa lươn lẹo lại lên lương.
Thêm nữa, đôi khi cũng một sự việc, nhưng có thể trở thành những sứ điệp khác nhau qua những nhãn quan khác nhau. Mỗi người theo quan niệm riêng của mình mà xét đoán đúng sai. Ở quê hương tôi, một làng quê giản dị, một nửa có đức tin Kitô giáo còn một nửa là lương dân. Những ngày Chúa nhật và lễ nghỉ, người Công giáo bận áo dài, trang phục đẹp nhất để đi lễ. Nhiều lương dân thấy thế mới bàn tán: xem kìa người Công giáo thật phiền hà, được ngày chủ nhật nghỉ ngơi lại cứ phải xớn sang cả lên, đến nhà thờ thì ngồi im re chẳng biết làm cái sự gì, thật đúng là khổ sở. Ở một câu chuyện khác, cũng những lương dân tấm tắc, người có Đạo sướng thật, tuần nào cũng được bận những đồ đẹp đi lễ, mà ra về thì mặt cứ vui tươi hớn hở như thể là được cho thứ gì. Ai như mình, có bộ áo dài mà cả năm chờ mãi chả thấy Tết, thấy Trại hè gì mà bận, kể bất công. Rõ ràng, đây không chỉ đơn thuần là hai cái nhìn nhưng là hai luồng ý thức quyết định đến thái độ của con người. Cũng phải nhìn nhận rằng, ngày nay, đi đạo có thể trở thành “gánh nặng” với một số người khi mà một mặt phải chu toàn bổn phận thờ phượng và bác ái, dành thời gian và công sức, mặt khác là đủ thứ chi phí, quyên góp, bổn phận. Sứ điệp của Kitô giáo vẫn luôn là thách đố cho mỗi người. Có điều quan trọng là, sự trưởng thành và chín muồi của đức tin sẽ biến mọi bổn phận và hy sinh trở thành công phúc trước mặt Chúa, một sự trả giá hoàn toàn “có hời” trước hạnh phúc đời sau không mai một.
Những con số nói lên điều gì?
Trước khi suy tư về niềm tin Kitô giáo, thiết tưởng chúng ta nên rảo qua một vài số liệu đáng chú ý. Theo báo cáo Pew Research Center — How the Global Religious Landscape Changed from 2010 to 2020, dựa trên thống kê dữ liệu của hơn 2.700 cuộc điều tra dân số và khảo sát toàn cầu: tính đến năm 2020, tổng dân số có tôn giáo (religiously affiliated) trên thế giới chiếm 75.8%, bao gồm mọi tín đồ các tôn giáo chính thống; và dân số không theo tôn giáo (unaffiliated) là 24.2%, bao gồm vô thần, bất khả tri, không liên kết với tôn giáo nào[2].
Mặc dù không phải là tất cả, nhưng những con số trên không phải là vô hồn, nó chứng minh cho ta thấy một điều rằng, dù đời sống có tiên tiến đến mức nào thì phần lớn nhân loại vẫn tin vào một điều gì đó vượt ngoài quy luật tự nhiên, hoặc ít nhất là thứ mà họ không thể nắm bắt được. Và lại, khái niệm vô thần có điều gì đó thật mơ hồ. Bạn có thể nói tôi không theo một tôn giáo nào cách dễ dàng, nhưng bạn lại rất chắc chắn mình có một quả tim mà không thể cầm nắm, hay là có một dòng điện nào đó mà mắt thường không thể thấy có thể làm sáng rõ bóng điện vào ban đêm.
Niềm tin Kitô giáo có gì khác?
Nhưng phải chăng tất cả các tôn giáo đều xuất phát từ trí tưởng tượng hay một niềm tin mơ hồ nào đó của con người? Không thể phủ nhận cố gắng của con người trong các tôn giáo và sự thực thì có nhiều tôn giáo đã khai sinh từ những nỗ lực ấy. Có những câu chuyện thật hoang đường đã được dựng nên làm nền móng cho một tôn giáo nào đó đã bị lụi tàn do sự tiến bộ của khoa học. Tuy nhiên, với Kitô giáo, chúng ta được chiêm ngắm một tôn giáo mạc khải, đây có lẽ là điều khả tín nhất. Chẳng có một bộ óc nhân loại nào có thể vẽ nên một niềm tin kỳ diệu như thế, chẳng có một người phàm nào có thể giải quyết mọi vấn nạn cho sự sống con người. Nhưng chính Đấng làm nên sự kỳ diệu nơi con người, Đấng đặt vào tâm hồn chúng ta sự khắc khoải tìm về nguồn gốc của chính mình, chính Đấng ấy đã tỏ lộ cho nhân loại sự thật về chính họ và về sự sống.
Một tôn giáo nhân văn
Lẽ thường tình trong cuộc sống, những người giàu sang quyền quý là những người được trân trọng hơn những người khác. Dù cho tất cả đều là những nhân vị nhưng cuộc sống luôn tồn tại những kiếp sống khác nhau, đôi khi là trái ngược đến đau lòng. Người giàu thường là người quyết định vận mệnh, đến nỗi nhiều khi người ta đồng hóa chân lý với lời nói của những người giàu có và quyền lực: người giàu thì nói gì cũng đúng. Thánh Giacôbê thấu biết điều này, ngài chất vấn chúng ta: Giả như có người vào nơi anh em họp, tay đeo nhẫn vàng, áo quần lộng lẫy, lại có một người nghèo mặc áo quần dơ bẩn cũng vào; nếu anh em chú ý đến người ăn mặc sang trọng mà nói: ‘Xin mời ông ngồi chỗ danh dự’, còn với người nghèo thì lại bảo: ‘Anh đứng đó’ hoặc ‘Ngồi dưới bệ chân tôi’, thì anh em chẳng hóa ra phân biệt đối xử sao? (Gc 2, 2-4). Và nghịch lý của xã hội đã thực sự xảy ra ở nơi Chúa Giêsu. Đối tượng mà Ngài nhắm đến và được Ngài yêu thương nhiều hơn cả lại là người nghèo khó và đau khổ. Đây là sứ điệp của Thiên Chúa, của Kitô giáo, một sứ điệp nhân văn – đến với người nghèo, tôn trọng phẩm giá của họ. Sự giản dị và nhân văn của Kitô giáo cũng làm nhiều người “chướng tai gai mắt”; họ gán mác cho Kitô giáo là thứ thuốc phiện mê ngủ những con người yếu đuối kém cỏi. Nhưng thiết nghĩ, nếu tất cả người nghèo khó, bất hạnh đều bị loại ra trên thế giới này, thì xã hội loài người đâu có gì đáng trân quý nữa. Điều vô giá của Kitô giáo là sự nhìn nhận tất cả mọi người đều được Chúa yêu thương và hơn thế nữa, người nghèo khổ, bất hạnh là đối tượng được Ngài yêu thương hơn cả.
Một trợ lực lớn lao trong lúc đau khổ

Có một thực tại mà ở nơi đó con người dễ nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa nhất: đau khổ – một hiện thực tàn nhẫn của cuộc sống và không loại trừ hay buông tha bất cứ một hạng người nào. Nếu có một tôn giáo nào đó hoàn toàn giải quyết được đau khổ của nhân loại thì có lẽ nó đã trở thành duy nhất. Thường con người tìm đến niềm tin để tìm lời giải thích cho những đau khổ của mình. Bởi lẽ, đứng trước đau khổ, con người bất lực. Dù không thể phủ nhận những tiến bộ và đóng góp lớn lao của khoa học trong đời sống, nhưng rút cuộc khoa học cũng không thể nào trả lời cho câu hỏi của số phận. Có nhiều thứ thực sự đã vượt xa sự hiểu biết của khoa học. Chúng ta vẫn còn nhớ một vài năm trước đây, một con virut mà mắt thường không thể trông thấy (Covid 19) đã làm cho thế giới đảo điên thế nào và đã cướp đi tính mạnh của biết bao người. Hằng ngày hằng giờ vẫn còn đó những người bỏ mạng vì các căn bệnh vô phương cứu chữa như ung thư, HIV… Như thế, làm sao những nhà khoa học chân chính có thể kiêu ngạo về thành tựu của mình? Khi đối diện với đau khổ, con người vẫn cần niềm tin để tiếp tục sống. Ngoài niềm tin vào Thiên Chúa, để vượt qua số phận, con người tin vào cuộc sống và những giá trị tốt đẹp, họ nghĩ về những người thân yêu làm động lực để tiếp tục sống. Cách riêng, đức tin Kitô giáo mang lại những trợ lực lớn lao cho con người trước những đau khổ trong cuộc đời. Thực vậy, đức tin là hy vọng. Hy vọng vào lời hứa Thiên Chúa sẽ không bỏ mặc những ai có lòng tin. Chính Thiên Chúa, để chứng thực quyền năng và lòng thương xót của Ngài, đã để Con Một giáng trần trong thân phận phàm nhân yếu đuối, và chịu chết nhục nhã trên cây thập tự để cứu độ con người. Như thế, khi người Kitô hữu chịu đau khổ, họ biết họ không chịu đựng một mình, họ biết họ không đơn độc, nhưng có Chúa thấu suốt, ủi an và “chấm công” tất cả những đau khổ ấy để con người được vinh thắng trong đời sau. Khi ở một vị trí cao trọng thì sự hy sinh sẽ trở nên cao quý; bởi thế mà, Con Một Thiên Chúa cao cả đã chịu những cực hình đớn đau nhục nhã nhất, thì sự hy sinh của Người chính là sự hy sinh lớn lao và cao quý nhất. Do đó, tất cả mọi người dù gặp hoàn cảnh éo le mấy nữa, vẫn được Con Một Thiên Chúa thấu suốt và cảm thông. Chính nhờ những ơn sủng của Thiên Chúa mà con người có sức mạnh và nghị lực để vượt qua khó khăn, vượt lên số phận. Chúng ta dễ thấy những người Công Giáo lâu năm luôn tự hào về niềm tin của họ và có một sức mạnh nội tâm to lớn khiến không nghịch cảnh nào của cuộc sống có thể làm họ mất đức tin. Ngược lại, cũng có những thất vọng và buông xuôi trong cuộc sống là vì đối diện với đau khổ là điều không hề dễ dàng. Chỉ những người luôn cầu xin ơn thánh với lòng đơn sơ khiêm tốn mới có thể nhận ra sự trợ lực ấy mà thôi.
Tóm lại, có thể nói được rằng, giá trị lớn nhất của niềm tin Kitô giáo là trao ban cho con người một điểm tựa tuyệt đối: chính Thiên Chúa. Khi mọi điều khác có thể lung lay, đức tin vẫn cho ta biết mình được yêu thương, được nâng đỡ và tôn trọng. Suy cho cùng, giá trị của niềm tin thực sự mang tính cách cá nhân, vì chính cách sống đức tin quyết định đến sức mạnh nội tâm của con người trong cuộc sống. Để kết thúc những suy tư tản mạn của mình, xin được phép trích lại đây lý chứng đánh cược của Blaise Pascal làm sứ điệp cho cả người tin và người chưa tin: “Căn cứ vào sự khó hiểu của Thiên Chúa thì có vẻ như chẳng nên đặt cược điều gì. Tuy nhiên, thực tế thì chúng ta không thể tránh được công việc này. Bởi lẽ, đã làm người là chúng ta đã xuống thuyền, đã bước vào con tàu định mệnh; không còn con đường rút lui nào cho chúng ta. Hơn nữa, lưỡng lự hay buông xuôi, phó mặc chỉ là thái độ của những con người yếu đuối, không có trách nhiệm gì với cuộc sống. Chúng ta phải đặt cược: theo hoặc chống . Cân nhắc cái được và cái mất trong cuộc đặt cược này, ta thấy rằng: nếu Thiên Chúa hiện hữu, thì ta được tất cả; nếu Thiên Chúa không hiện hữu, ta không mất gì”[3]. Vậy chẳng có lý do gì mà chúng ta không tham gia ván cược với một món hời lớn lao như vậy cả !
Chủng sinh: Joseph Nguyễn Văn Tuyền
Lớp Thần III – Khóa IV
[1] William S. Sahakian; Mabel Lewis Sahakian (1966). Ideas of the Great Philosophers. Barnes & Noble. ISBN 978-1-56619-271-2, https://vi.wikipedia.org/wiki/Lu%C3%A2n_l%C3%BD_h%E1%BB%8Dc#cite_note-SahakianSahakian19665-19, truy cập ngày 28/2/2026.
[2] https://www.pewresearch.org/religion/2025/06/09/how-the-global-religious-landscape-changed-from-2010-to-2020/?utm_source=chatgpt.com, truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2026.
[3] Bernard Morichère & nhóm giáo sư triết học các trường đại học Pháp, dịch Phan Quang Định, Triết học Tây Phương từ khởi thủy đến đương đại, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2010, tr.459.
BÀI VIẾT LIÊN QUAN