BẢY LỜI XIN TRONG KINH LẠY CHA

BẢY LỜI XIN TRONG KINH LẠY CHA

 

 

Chúa Giêsu dạy chúng ta cách xưng hô với Thiên Chúa như một người Cha. Từ đầu tiên trong lời cầu nguyện “Lạy Cha chúng con”, đó là “Cha”, là từ quan trọng nhất, vì chính qua từ này Chúa Giêsu Kitô dạy chúng ta xưng hô với Thiên Chúa như Cha: “Cầu nguyện là bước vào mầu nhiệm của Người, đúng như Người là, và như Con đã mặc khải cho chúng ta: ‘Danh xưng Thiên Chúa là Cha chưa từng được mặc khải cho ai. Khi chính Môsê hỏi Thiên Chúa, Người là ai, Người nghe được một danh xưng khác. Nhưng danh xưng này đã được mặc khải cho chúng ta trong Con, vì danh xưng đó bao hàm danh xưng mới là Cha”[1].

Khi dạy lời cầu nguyện “Lạy Cha”, Chúa Giêsu cũng tiết lộ với các môn đệ rằng họ được tham dự vào sự làm con của Người: “Với sự mặc khải lời cầu nguyện này, các môn đệ khám phá ra sự tham dự đặc biệt của mình vào sự làm con Thiên Chúa, mà thánh Gioan nói trong lời mở đầu Tin Mừng: ‘Nhưng tất cả những ai đã tiếp nhận Người (tức tất cả những ai đón nhận Ngôi Lời đã trở nên người) Người ban quyền làm con Thiên Chúa’ (Ga 1,12). Vì vậy, họ cầu nguyện đúng theo lời dạy của Người: “Lạy Cha chúng con ở trên trời”[2].

Chúa Giêsu luôn phân biệt rõ giữa “Cha của Con” và “Cha của các con” ( Ga 20,17). Thực tế, khi Người cầu nguyện, Người không bao giờ nói “Lạy Cha chúng ta”. Điều này cho thấy mối quan hệ của Người với Thiên Chúa là hoàn toàn duy nhất: đó là mối quan hệ riêng của Người, không của ai khác. Qua lời cầu nguyện “Lạy Cha chúng con”, Chúa Giêsu muốn làm cho các môn đệ ý thức về thân phận con cái Thiên Chúa, đồng thời nhấn mạnh sự khác biệt giữa sự làm con tự nhiên của họ và sự làm con Thiên Chúa mà chúng ta nhận được như một ân huệ tự do của Thiên Chúa.

Lời cầu nguyện của người Kitô hữu là lời cầu nguyện của một đứa con Thiên Chúa, hướng về Thiên Chúa Cha với sự tin tưởng (Ep 3,12; Dt 3,6; 4,16; 10,19; 1 Ga 2,28; 3,21; 5,14).

Làm con Thiên Chúa và tình huynh đệ Kitô giáo

 

 

Khi gọi Thiên Chúa là “Cha chúng con”, chúng ta công nhận rằng sự làm con Thiên Chúa kết nối chúng ta với Đức Kitô, “Con trưởng của một muôn vàn anh em” (Rm 8,29), qua một tình huynh đệ siêu nhiên thật sự. Hội Thánh là cộng đoàn mới của Thiên Chúa và nhân loại.

Vì vậy, sự thánh thiện Kitô giáo, tuy cá nhân và riêng biệt, không bao giờ là chủ nghĩa cá nhân hay ích kỷ. Nếu chúng ta thật lòng cầu nguyện ‘Lạy Cha chúng con’, chúng ta bước ra khỏi chủ nghĩa cá nhân, vì Tình Yêu chúng ta đón nhận giải thoát chúng ta khỏi nó. ‘Chúng con’ trong lời cầu nguyện của Chúa và ‘chúng ta’ trong bốn lời xin cuối cùng không loại trừ ai. Để lời cầu nguyện được nói thật lòng ( Mt 5,23-24; 6,14-16), chúng ta phải vượt qua mọi chia rẽ và đối nghịch. Tình huynh đệ được thiết lập qua sự làm con Thiên Chúa cũng mở rộng ra với tất cả mọi người, vì theo một nghĩa nào đó, tất cả đều là con Thiên Chúa, là thụ tạo của Người và được gọi mời đến sự thánh thiện: “chỉ có một giống trên trái đất này: đó là giống con cái Thiên Chúa”[3]. Do đó, người Kitô hữu cần cảm thấy liên đới trong nhiệm vụ dẫn dắt toàn nhân loại đến với Thiên Chúa.

Sự làm con Thiên Chúa thúc đẩy chúng ta hoạt động tông đồ, vốn là sự biểu hiện cần thiết của sự làm con và tình huynh đệ: “Hãy nghĩ đến người khác, đặc biệt những người gần bạn như chính họ là: những con cái Thiên Chúa, với phẩm giá mà danh xưng tuyệt vời này mang lại. Chúng ta cần cư xử như con cái Thiên Chúa đối với những con cái Thiên Chúa khác: tình yêu của chúng ta phải là tình yêu hy sinh, tình yêu hằng ngày, được làm nên bởi hàng ngàn chi tiết của sự thấu hiểu, hy sinh thầm lặng và dâng hiến âm thầm”[4].

Một hệ quả quan trọng của ý thức làm con Thiên Chúa là sự tin tưởng và phó thác con thảo trong tay Thiên Chúa. Thánh Josémaria xác nhận: “Đối diện với cha mình, một đứa trẻ có thể phản ứng theo muôn ngàn cách khác nhau. Chúng ta phải cố gắng, như những đứa trẻ, nhận ra rằng: Thiên Chúa, khi muốn chúng ta làm con, Người làm cho chúng ta sống trong nhà Người, giữa thế giới này; kết nạp chúng ta vào gia đình Người, biến những gì của Người thành của chúng ta, và những gì của chúng ta thành của Người; ban cho chúng ta sự thân mật và tin tưởng đến nỗi chúng ta dám xin Người, như những đứa trẻ nhỏ, những điều không thể!”[5].

Sự phó thác con thảo, không chỉ đơn giản là kết quả của cuộc chiến cá nhân mặc dù điều này được giả định mà là sự để cho Thiên Chúa dẫn dắt. Đây là sự phó thác tích cực, tự do và ý thức của người con. Thái độ này đã sinh ra một cách sống cụ thể của sự làm con Thiên Chúa, tự nhận mình không chỉ là con, mà là đứa trẻ nhỏ, một đứa trẻ rất cần Thiên Chúa: “‘Nếu các con không trở nên như trẻ nhỏ, các con sẽ không vào Nước Trời’ (Mt 18,3). Khi đứa trẻ còn nhỏ, nó giữ sự đơn sơ; nó chỉ biết mẹ nó; nó chỉ có một tình yêu duy nhất là mẹ nó; một khát vọng duy nhất là lòng mẹ; nó không mong muốn gì khác ngoài việc nằm nghỉ trong vòng tay yêu thương. Linh hồn đơn sơ hoàn hảo chỉ có một tình yêu duy nhất là Thiên Chúa; và trong tình yêu duy nhất ấy, có một khát vọng duy nhất là được nghỉ ngơi trong lòng Cha trên trời, và đặt sự nghỉ ngơi của mình ở đó, như một đứa trẻ yêu thương, để cho Người chăm sóc mọi sự, không tìm kiếm gì khác ngoài sự tin cậy thánh thiện đó”[6].

Thánh Josémaria cũng khuyên nên theo con đường tuổi thơ tâm linh: “ Nếu các con là con trẻ, các con sẽ không buồn phiền: trẻ con quên ngay mọi buồn phiền để trở lại trò chơi quen thuộc. Vì vậy, khi phó thác, các con sẽ không phải lo lắng, vì các con sẽ nghỉ ngơi trong vòng tay Cha”[7].

Trong “Lạy Cha chúng con”, lời xưng hô mở đầu: Lạy Cha chúng con ở trên trời, được theo sau bởi bảy lời xin. Ba lời xin đầu nhằm vinh quang Cha: sự cả sáng Danh Cha, sự trị đến của Nước Cha, và việc thực hiện Thánh Ý Cha. Bốn lời xin còn lại thể hiện những ước muốn của chúng ta: những lời xin này liên quan đến đời sống chúng ta, để nuôi dưỡng hoặc chữa lành chúng ta khỏi tội lỗi, và liên quan đến cuộc chiến của chúng ta để chiến thắng Thiện trên Ác.

Lời cầu nguyện “Lạy Cha” là mẫu mực cho mọi lời cầu nguyện, như thánh Tôma Aquinô dạy: “Lời nguyện Chúa dạy là lời nguyện hoàn hảo nhất. Trong đó, không chỉ chúng ta xin tất cả những gì có thể một cách chính đáng, mà còn xin theo trật tự mà chúng ta phải mong ước. Do đó, lời cầu nguyện này không chỉ dạy chúng ta cách xin, mà còn hình thành toàn bộ tình cảm của chúng ta”.

Lời xin thứ nhất: Xin cho Danh Cha được cả sáng

Sự thánh thiện của Thiên Chúa không thể được gia tăng bởi bất cứ thụ tạo nào. Vì thế, “thuật ngữ ‘thánh hóa’ ở đây không theo nghĩa nguyên nhân (chỉ có Thiên Chúa thánh hóa, làm cho nên thánh) mà chủ yếu theo nghĩa đánh giá: nhận biết là thánh, đối xử một cách thánh thiện. Ngay từ lời xin đầu tiên gửi Cha chúng ta, chúng ta đã bị lặn sâu vào mầu nhiệm nội tại của Thần Tính và vào tính cứu độ của nhân loại chúng ta. Xin cho Danh Người được cả sáng đòi hỏi chúng ta phải tham gia vào ‘Kế hoạch yêu thương mà Người đã định trước’ để ‘chúng ta nên thánh thiện và không vết nhơ trước mặt Người trong tình yêu’ (Ep 1,9.4).

Do đó, yêu cầu của lời xin đầu tiên là sự thánh thiện phải tỏa sáng và tăng trưởng trong cuộc sống chúng ta: ‘Hãy thánh thiện như Ta là thánh’ (Lv 20,26), chúng ta xin rằng, nhờ Bí tích Rửa Tội được thánh hóa, chúng ta có thể kiên trì trong điều chúng ta đã bắt đầu trở thành. Và chúng ta xin hằng ngày vì chúng ta thường phạm lỗi và cần thanh tẩy tội lỗi bằng sự thánh hóa liên tục. Vì vậy, chúng ta cầu nguyện để sự thánh thiện đó tồn tại trong chúng ta”[8].

Lời xin thứ hai: Xin cho Nước Cha trị đến

Lời xin thứ hai bày tỏ niềm hy vọng một thời mới sẽ đến, khi Thiên Chúa được mọi người công nhận là Vua, Đấng ban phúc lành cho dân của Người: “Lời xin này là ‘Maranatha’, tiếng kêu của Thần Khí và Hội Thánh: ‘Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến’ (Kh 22,20). Trong lời cầu nguyện của Chúa, chủ yếu nói đến sự đến cuối cùng của Nước Thiên Chúa qua việc Chúa Kitô trở lại ( Tt 2,13).

Tuy nhiên, Nước Thiên Chúa đã được khởi đầu trên thế gian này với lần đến đầu tiên của Chúa Kitô và việc sai Thánh Thần: “Nước Thiên Chúa là công chính, bình an và niềm vui trong Thánh Thần” (Rm 14,17). Thời kỳ cuối cùng mà chúng ta đang sống là thời kỳ Thánh Thần tuôn đổ. Kể từ đó, một cuộc chiến quyết định đã diễn ra giữa “xác thịt” và Thần Khí (Gl 5,16-25): “Chỉ có lòng trong sạch mới có thể nói chắc chắn: ‘Xin cho Nước Cha trị đến’. Phải học từ Thánh Phaolô để nói: ‘Xin cho tội lỗi không còn trị vì trong thân xác phải chết của chúng ta nữa’ (Rm 6,12). Ai giữ sạch trong hành động, suy nghĩ và lời nói, có thể nói với Thiên Chúa: ‘Xin cho Nước Cha trị đến![9].

Tóm lại, trong lời xin thứ hai, chúng ta diễn tả ước muốn Thiên Chúa hiển trị vì trong chúng ta ngày hôm nay bằng ơn thánh, để Nước Người trên trần gian ngày càng mở rộng, và vào lúc kết thúc thời gian, Người trị vì trọn vẹn trên mọi người.

Lời cầu xin thứ ba: Xin cho ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời

Ý muốn của Thiên Chúa là “mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tm 2,3-4). Chúa Giêsu dạy rằng con người được vào Nước Trời không phải vì lời nói, nhưng là nhờ “làm theo ý muốn của Cha Ta trên trời” (Mt 7,21). Vì thế, qua lời cầu xin này, chúng ta xin Chúa Cha, chúng ta kết hợp ý muốn của chúng ta với ý muốn của Con Ngài, để thực hiện ý định cứu độ của Ngài cho sự sống của thế gian. Tự sức chúng ta hoàn toàn bất lực, nhưng khi kết hợp với Chúa Giêsu và nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, chúng ta có thể phó thác ý muốn của mình và quyết định chọn điều mà Con Ngài luôn chọn: “làm những gì đẹp lòng Cha” ( Ga 8,29).

Khi chúng ta cầu nguyện trong Kinh Lạy Cha: “Xin cho ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”, điều đó không có nghĩa là xin cho Thiên Chúa làm điều Ngài muốn, nhưng là xin cho chúng ta có thể làm điều Thiên Chúa muốn. Mặt khác, cụm từ “dưới đất cũng như trên trời” diễn tả lòng ao ước tha thiết rằng ý muốn của Thiên Chúa, như đã được thực hiện nơi các thiên thần và các thánh trên trời, cũng được thực hiện nơi chúng ta là những người còn ở trần gian này.

Lời cầu xin thứ tư: Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày

SONY DSC

Lời cầu xin này diễn tả sự tín thác của con cái Thiên Chúa, vì “Cha trên trời, Đấng ban cho chúng ta sự sống, không thể không ban cho chúng ta lương thực cần thiết để sống, mọi điều thiện hảo thích hợp, cả vật chất lẫn thiêng liêng”[10].

Ý nghĩa Kitô giáo của lời cầu xin thứ tư liên quan đến Bánh Hằng Sống: Lời Chúa mà chúng ta đón nhận trong đức tin, và Thân Mình Chúa Kitô được đón nhận trong Bí tích Thánh Thể. Cụm từ “hằng ngày” hiểu theo nghĩa thời gian, là sự dạy dỗ để củng cố nơi chúng ta một sự tin tưởng “không do dự”. Hiểu theo nghĩa định tính, nó có nghĩa là những gì cần thiết cho cuộc sống, và rộng hơn là mọi điều thiện đủ cho sự sống còn (1 Tm 6,8).

Lời cầu xin thứ năm: Xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con

 

Trong lời cầu xin mới này, chúng ta bắt đầu bằng cách thừa nhận thân phận tội lỗi của mình: “chúng ta trở về với Thiên Chúa như người con hoang đàng ( Lc 15,11-32), và chúng ta nhìn nhận mình là tội nhân trước mặt Ngài, như người thu thuế ( Lc 18,13). Lời cầu xin của chúng ta bắt đầu bằng một lời “xưng thú”, trong đó chúng ta đồng thời tuyên xưng sự khốn cùng của mình và lòng Thương Xót của Ngài”[11].

Tuy nhiên, lời cầu xin này sẽ không được nhậm lời nếu chúng ta không đáp lại một đòi hỏi: tha thứ cho những người xúc phạm đến chúng ta. Lý do là: dòng suối lòng thương xót sẽ không thể tràn vào tâm hồn chúng ta nếu chúng ta chưa tha thứ cho những ai xúc phạm đến mình. Tình yêu, cũng như Thân Mình Chúa Kitô, là không thể chia cắt: chúng ta không thể yêu mến Thiên Chúa mà chúng ta không thấy, nếu không yêu thương người anh chị em mà chúng ta thấy” ( 1 Ga 4,20). Khi chúng ta từ chối tha thứ cho anh chị em, lòng chúng ta khép lại, sự cứng lòng khiến nó không thể đón nhận tình yêu thương xót của Chúa Cha.

Lời cầu xin thứ sáu: Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ

Lời cầu xin này liên kết với lời trước, bởi vì tội lỗi là kết quả của việc tự do chấp nhận sự cám dỗ. Do đó, giờ đây chúng ta xin Cha trên trời “đừng để chúng con ‘sa vào’ cám dỗ. Chúng con xin Cha đừng để chúng con đi theo con đường dẫn đến tội lỗi. Chúng con đang tham dự vào cuộc chiến giữa ‘xác thịt và Thần Khí’. Lời cầu xin này khẩn nài Thần Khí ban ơn phân định và sức mạnh. Thiên Chúa luôn ban ân sủng để chúng ta vượt thắng cám dỗ: “Thiên Chúa là Đấng trung tín; Người không để anh em bị cám dỗ quá sức mình. Khi bị cám dỗ, Người sẽ ban cho anh em phương tiện để thoát khỏi và sức mạnh để chịu đựng” (1 Cr 10,13).

Tuy nhiên, để luôn chiến thắng các cám dỗ, điều cần thiết là phải cầu nguyện. Một cuộc chiến như thế và một chiến thắng như vậy chỉ có thể đạt được trong lời cầu nguyện. Chính nhờ cầu nguyện mà Chúa Giêsu đã chiến thắng Kẻ cám dỗ ngay từ lúc bắt đầu ( Mt 4,1-11) và trong cuộc chiến cuối cùng nơi vườn Cây dầu ( Mt 26,36-44). Trong lời cầu xin này, Đức Kitô kết hiệp chúng ta với cuộc chiến và cơn hấp hối của Người trước Cha chúng ta. Lời cầu này mang ý nghĩa sâu sắc khi liên hệ đến cơn cám dỗ cuối cùng trong cuộc chiến nơi trần gian của chúng ta;  xin ơn bền đỗ đến cùng. “Này Ta đến như kẻ trộm; phúc cho ai tỉnh thức!” (Kh 16,15).

Lời cầu xin thứ bảy: Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ

Lời cầu xin cuối cùng này nằm trong lời nguyện hiến tế của Chúa Giêsu với Chúa Cha: “ Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần” (Ga 17,15). Thật vậy, trong lời cầu này, “sự dữ” không phải là một khái niệm trừu tượng, mà là một nhân vật  Satan, tên Ác Quỷ, thiên thần phản nghịch Thiên Chúa. “Ma quỷ” (tiếng Hy Lạp dia-bolos) là kẻ “ném đá cản đường” kế hoạch của Thiên Chúa và “công trình cứu độ” của Ngài[12]. Hơn nữa, “khi xin được cứu thoát khỏi ác quỷ, chúng ta cũng cầu xin được giải thoát khỏi mọi sự dữ quá khứ, hiện tại và tương lai mà ma quỷ là tác giả hoặc kẻ xúi giục”[13], đặc biệt là khỏi tội lỗi, điều ác đích thực duy nhất, và khỏi hình phạt của nó là sự hư mất đời đời. Những đau khổ khác và gian truân có thể trở nên ích lợi nếu chúng ta biết đón nhận và hiệp thông với những đau khổ của Chúa Kitô trên Thập Giá.

                                                                         Linh mục Giuse Phan Cảnh

                                                         ĐCV Thánh Phaolo Lê Bảo Tịnh Thanh Hóa

[1] Tertullianô, De oratione, 3.

[2] St Jean Paul II, Audience, 1-VII-1987, 3.

[3] Saint Josémaria, Quand le Christ passe, 13.

[4] Saint Josémaria, Quand le Christ passe, 36.

[5] Saint Josémaria, Quand le Christ passe, 64.

[6] Saint François de Sales, Entretiens spirituels, no 16, 7.

[7] Saint Josémaria, Chemin, 864.

[8] Saint Cyprien, De dominica oratione, 1.

[9] Thánh Cyril thành Giêrusalem, Catecheses mystagogicæ, 5,13

[10] Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 2830.

[11] Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 2839.

[12] Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 2851.

[13] Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 2854.