NGƯỜI CHỦNG SINH – NÓNG HAY LẠNH ?

NGƯỜI CHỦNG SINH – NÓNG HAY LẠNH ?

        “Ta biết các việc ngươi làm: ngươi không nóng mà cũng không lạnh. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi!” (Kh 3,15). Đây là lời cảnh cáo được gửi cho Hội Thánh ở Laođikia. Nó như một lời chất vấn mang tính cộng đoàn, vừa mang tính cá nhân của người tín hữu. Với bản thân tôi, một người chủng sinh, một linh mục tương lai, lời nói này có ý nghĩa thật đặc biệt, bởi nó thách thức toàn bộ đời sống ơn gọi, thậm chí xoay chuyển cả chính động lực ơn gọi của tôi. Vì vậy như một cơ hội để khám phá và hiểu hơn về mình cũng như để hiểu hơn về hành trình “trở nên người môn đệ” Chúa. Bài viết dưới đây là một chút suy tư tản mạn, với hy vọng sẽ giúp ích được cho tôi và cho những ai đã và đang hy vọng dấn thân để nên hoàn thiện giống như Đức Kitô.

         Ơn gọi linh mục thường khởi đi từ một động lực, động lực này thường được ví như một ngọn lửa rất đẹp: lửa của lòng yêu mến Chúa, lửa của ước muốn hiến dâng, lửa của khát vọng phục vụ Dân Chúa. Nhưng hành trình đào tạo và tự đào tạo trong chủng viện không chỉ để bảo vệ ngọn lửa ấy, mà còn là nơi để ngọn lửa ấy được chịu thử thách, được thanh luyện và được đặt nền móng cho cuộc đời linh mục tương lai. Vì thế, câu hỏi “nóng hay lạnh” được đặt ra không chỉ dành cho linh mục, nhưng còn là câu hỏi cần được đặt ra ngay từ khi còn là chủng sinh. Nói khác đi, câu hỏi “nóng hay lạnh” cũng chính là câu hỏi chất vấn người chủng sinh: Ngọn lửa nào đang bừng cháy trong tôi? Nó đã bị vụt tắt, hay chỉ còn là leo lét, “hâm hẩm”?

        Chủng viện – nơi có thể nhen nhóm sự “không nóng không lạnh” cách âm thầm. Là một người Chủng sinh hiếm khi chúng ta có sự nguội lạnh vì xa cách hay đánh mất niềm tin cậy nơi Chúa, nhưng chúng ta lại rất dễ “không nóng không lạnh” bởi sự quá quen, nhất là với các việc thiêng liêng đạo đức. Thánh lễ mỗi ngày, giờ kinh đều đặn, đời sống kỷ luật và học tập cách nghiêm túc có thể trở thành một chiếc “áo đạo đức” an toàn chứa đựng con tim đang dần ngủ yên. Yên với bản thân, yên với cuộc sống. Yên vì ảo tưởng về sự thánh thiện, về khả năng và về sự hoàn hảo của bản thân mình.

        Mỗi ngày trong chủng viện chúng ta vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh, vẫn học thần học, nhưng tất cả những việc làm đó của cúng ta, mới dừng lại ở bổn phận hơn là làm vì tình yêu. Khi đó, đời sống thiêng liêng của chúng ta không hoàn toàn là chết, nhưng trong trạng thái sống mà không còn là sống, tức thiếu đi sự sống động đích thực; chúng ta rơi vào tình trạng “không nóng mà cũng không lạnh”, một tình trạng nguy hiểm hơn cả sự nguội lạnh cách rõ ràng.

        Cái “không nóng không lạnh” rất đặc trưng của người chủng sinh. Sự “hâm hẩm” nơi chủng sinh thường không ồn ào, không gây tai tiếng, không bị kỷ luật. Nó xuất hiện trong những điều rất nhỏ như: thường xuyên cầu nguyện nhưng ít có được sự gặp gỡ cá vị với Chúa; tham dự Thánh lễ mỗi ngày nhưng thiếu cảm thức trước mầu nhiệm cao cả; việc nghiên cứu thần học chỉ dừng lại ở mặt kiến thức, ít để Lời Chúa đi sâu vào trong đời sống sứ vụ. Đây không phải là tất cả, nhưng là điển hình cho một thứ nguội lạnh khiến người chủng sinh đánh mất sự thao thức về chính đời sống thiêng liêng của mình. Tâm hồn không còn sự nhạy bén, lương tâm trở nên chai lì, con tim không còn cảm thấy buồn khi cầu nguyện khô khan, lòng mình không còn khao khát đi xa hơn trong tương quan cá vị với Chúa.

         Nguy cơ lớn của việc tu học: “đúng chuẩn” nhưng thiếu lửa. Chủng viện là nơi có thể giúp ta trở thành một con người sống đúng kỷ luật, đúng phụng vụ, đúng giáo lý, thông thạo về triết học và thần học. Nhưng chủng viện không thể trở thành một lâu đài thay thế sự tự do nội tâm của người chủng sinh, mà chỉ có thể để cho Chúa chạm tới trái tim và bằng chính tự do của mình. Người chủng sinh sẽ phải tự quyết định cho chính cuộc đời của bản thân. Cuộc sống cho chúng ta một trải nghiệm thực tế rằng: một người chủng sinh có thể rất gương mẫu bên ngoài, nhưng bên trong lại khép kín, né tránh đối diện với những câu hỏi căn bản về động lực ơn gọi linh mục Giáo phận. Một người chủng sinh như vậy, theo Cha Tôma Vũ Quang Trung, S.J, sẽ có nguy cơ trở nên khuyết tật về nhân cách và không thể trưởng thành để sống ơn gọi linh mục cách tốt đẹp cũng như đem lại hoa trái thiêng liêng cho cuộc sống phục vụ. Bởi những động lực vô thức được pha trộn trong ơn gọi linh mục chưa được đối diện và đem ra thanh luyện theo giá trị Tin Mừng.[1] Có thể thấy rằng, nơi người chủng sinh sự nguy hiểm không phải là lúc nguội lạnh nhưng là lúc “hâm hẩm”, người chủng sinh cảm thấy hài lòng với chính bản thân mình, không còn cần đến sự hoán cải bản thân hay khao khát tăng trưởng về đời sống tâm linh.

           Người chủng sinh không phải là người thuộc về cõi trời, nhưng là người luôn biết tự canh tân và được biến đổi ngay giữa đời để luôn thuộc trọn về Chúa. Vì thế, người chủng sinh không nuôi dưỡng bởi những cảm xúc nhất thời, nhưng suốt những năm tháng ở chủng viện, người chủng sinh cần nuôi dưỡng cho mình một ngọn lửa âm ỉ, luôn vững bền và hằng tín trung. Người chủng sinh giữ lửa không phải chỉ những cảm nghiệm thiêng liêng đặc biệt với sự bừng cháy lên của ngọn lửa, nhưng còn bởi những điều thực tiễn qua mỗi ngày sống như: trung thành với giờ cầu nguyện cá vị, ngay cả khi khô khan; Can đảm mở lòng với cha linh hướng, không che giấu sự nguội lạnh; dưỡng nuôi tình yêu Chúa qua bổn phận hằng ngày, không cần được chú ý hay khen ngợi… Chính trong những điều rất bình thường ấy, người chủng sinh học cách ở lại với Chúa, ngay cả khi không còn sự sốt sắng nâng đỡ.

          Ngoài ra với những ngày tháng tại chủng viện là môi trường tốt để cho người chủng sinh tự học cách làm một người linh mục “nóng”. Mẹ Têrêsa Calculta nói rằng: “Chủng sinh thế nào, linh mục thế đó”.[2] Người chủng sinh “nguội”, linh mục cũng sẽ “nguội”; một người chủng sinh thờ ơ hời hợt, nóng không nóng lạnh không lạnh thì linh mục cũng sẽ “hâm hẩm”; người chủng sinh “nóng” linh mục cũng sẽ “nóng”. Nhưng cái “nóng” của người chủng sinh là cái “nóng” như thế nào? Phải chăng là cái “nóng” của tính khí, cái “nóng” của cái tôi, hay cái “nóng” của ngọn lửa nhiệt thành, sốt mến và lòng tín trung. Có lẽ rằng, một người chủng sinh “nóng” không phải là cái tính nóng, cũng không phải là người luôn có lòng sốt sắng cho bằng là một người có tâm hồn khao khát sự hoàn thiện cao. Người đó sẽ chẳng bao giờ bằng lòng với một đời sống thiêng liêng hời hợt; sẽ luôn dám đối diện và phơi bày sự khô khan cũng như tất cả yếu đuối của mình trước mặt Chúa, luôn hồi tâm xét mình và trở về với động lực của ơn gọi của bản thân.

          Có thể thấy rằng, ngọn lửa linh mục không tự nhiên mà có. Nếu không được tôi luyện, chăm sóc và giữ gìn ngay từ khi còn trong chủng viện, thì nó vẫn có thể tắt dần ở giữa những việc đạo đức tốt lành nhưng thiếu dầu của Chúa Thánh Thần. Mà dầu của Thánh Thần là bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ (Gl 5, 22-23). Như thế nó là kết quả của sự nỗ lực cá nhân, vừa là ân sủng của Chúa Thánh Thần.

          Thời gian tại chủng viện không chỉ đào tạo người chủng sinh có khả năng về thiêng liêng, nhân bản, tri thức và mục vụ để có thể lãnh nhận chức linh mục, nhưng hơn hết còn là đào tạo và tự đào tạo một người ứng viên linh mục mang trong mình trái tim luôn biết “cháy”. Điều quan trọng với một người chủng sinh không phải chỉ là một hồ sơ đẹp không tì vết tại chủng viện, mà còn là một trái tim luôn biết thao thức vì Chúa và vì Dân Người. Như vậy, người chủng sinh không phải chỉ là người giỏi về kiến thức, khéo về kỹ năng, nhưng còn cần và trên hết phải là người có thể và muốn đi vào mối tương giao Thầy-trò với Chúa Giêsu, để mình trở nên người được thúc đẩy bởi Thánh Thần của Đấng Phục Sinh hầu làm cho Nước Thiên Chúa được thể hiện ngay trong cuộc sống hôm nay với những người chung quanh.[3] “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và thầy ước mong phải chi lửa ấy bùng lên” (Lc 12, 49). Đó là ước mong của Thầy Giêsu. Ước mong này chỉ trở thành hiện thực, mặt đất này được bừng cháy lên ngọn lửa có lẽ phần lớn phụ thuộc vào những người mang trong mình những ngọn lửa, lửa của nhiệt thành, lửa của thiện chí, lửa của Thánh Thần tình yêu. Hy vọng rằng thời gian đào tạo tại chủng viện là một cuộc gặp gỡ với chính Đức Kitô Phục Sinh, để người chủng sinh cũng có những kinh nghiệm về Người, nhận ra Người để lòng được bừng cháy lên. Nhờ đó, mỗi người chủng sinh sẽ trở thành những chứng nhân niềm vui Phục Sinh cho mọi người hôm nay và mãi mãi. (Lc 24, 13-35).

Chủng sinh: An-tôn Mai Văn Hải

Lớp Thần III – Khóa IV

TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ SỐ TRÍCH DẪN

[1] Nhận định ơn gọi tu trì, Linh Mục Tôma Vũ Quang Trung, S.J. (Bài thuyết trình cho các Bề trên Thượng cấp tại Đại hội Tu sĩ toàn quốc lần II tại Tòa Giám Mục Bùi Chu năm 2008). https://vocationscava.org/wp-content/uploads/2018/09/Vietnamese-Vocations.Nhan-Dinh-On-Goi-Tu-Tri.pdf.

[2] Chủng Sinh Thế Nào, Linh Mục Thế Đó? Linh mục Phaolô Phạm Trọng Phương. https://www.dcvphanxicoxavie.com/vn/Nhan-Ban-Thieng-Lieng-On-Goi/Chung-Sinh-The-Nao-Linh-Muc-The-Do.html.

[3] VÀI SUY TƯ VỀ VIỆC PHÂN ĐỊNH ƠN GỌI LINH MỤC DƯỚI GÓC NHÌN CỦA RATIO 2016. Lm. Giuse Nguyễn Trọng Sơn. https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/vai-suy-tu-ve-viec-phan-dinh-on-goi-linh-muc-duoi-goc-nhin-cua-ratio-2016-39120.