BÀI SUY NIỆM CHÚA NHẬT III MÙA CHAY – NĂM A
Linh hồn con khao khát Chúa, ôi Chúa Trời hằng sống!

Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,
Khi nói về sa mạc, chúng ta có thể hình dung sa mạc là biển cát mênh mông, nóng như thiêu như đốt vào ban ngày, nhưng lại trở nên lạnh buốt về đêm vắng. Sa mạc là biển cát không định hướng, nếu không có kinh nghiệm mà lạc bước vào sa mạc thì chỉ còn một con đường duy nhất là đi tới. Nó có thể là con đường vô tận, có lối vào mà không có lối ra. Sa mạc còn là nơi khô cằn thiếu sự sống, là sự thử thách tột độ về sức lực của con người. Sa mạc là miền đất của đói khát và là miền đất của sự kiệt sức, của rã rời và của chết chóc.
Trong bài đọc thứ nhất, trích từ sách Xuất hành diễn tả cho chúng ta thấy trên con đường dẫn dân Do Thái về đất hứa, Thiên Chúa đã dùng sa mạc làm trường học để huấn luyện, thanh tẩy và để hội tụ niềm tin của họ vào một mình Thiên Chúa duy nhất. Theo một ý nghĩa nào đó, tiến vào bốn mươi ngày của Mùa chay là chúng ta nối gót dân Do Thái xưa kia trong cuộc hành trình xuyên qua sa mạc để tiến vào Đất hứa ( Xh 17,3-7 ). Cũng như tiến vào bốn mươi ngày của Mùa chay, chúng ta dõi theo bước chân Đức Giêsu đi vào hoang địa để chay tịnh, để cầu nguyện và suy niệm. Qua đó, đào sâu ý nghĩa của cuộc sống và nhận định lại bậc thang giá trị của cuộc đời mỗi người chúng ta.
Chúa Nhật hôm nay, sau hai tuần hành trình xuyên qua sa mạc nóng bỏng, khô cằn, Phụng vụ Lời Chúa mời gọi chúng ta dõi theo bước chân của người phụ nữ Samaria đến bờ giếng Gia-cóp, để chúng ta uống nguồn nước trong mát. Bối cảnh của Tin mừng cho chúng ta thấy: Palestine tính từ bắc xuống nam dài khoảng gần 200km. Vào thời Chúa Giêsu nó chia thành ba vùng khác nhau: phía bắc là Galilê, phía nam là Giuđê, và giữa hai phần đó là Samari. Trong giai đoạn đó, Chúa Giêsu không muốn bị lôi cuốn vào việc tranh chấp về phép rửa, nên Ngài quyết định tạm thời rời Giuđê để chuyển sang hoạt động tại xứ Galilê. Giữa dân Do thái và dân Samari đã có mối bất hòa kéo dài từ nhiều thế kỷ. Con đường ngắn nhất từ Giuđê đến Galilê là đi ngang qua xứ Samari, mất khoảng ba ngày. Nếu đi đường khác để tránh xứ Samari thì phải qua sông Giođan, đi lên theo phía đông của sông, rồi trở lại bờ bên này ở phía bắc Samari để vào Galilê. Đi đường vòng xa gấp đôi, muốn chọn con đường ngắn nhất, Chúa Giêsu phải đi ngang qua Samari.
Tin mừng kể tiếp: lúc đó, vào khoảng mười hai giờ trưa. Có một phụ nữ Samari đến múc nước. Đức Giêsu nói với người ấy: “Chị cho tôi xin chút nước uống!” ( Ga 4,7 ). Đức Giêsu là một người xa lạ, rất xa lạ, đã trở nên gần gũi một phần nào đó với người phụ nữ Samari, vì Người đang sống hoàn cảnh đáng được thông cảm. Đường xa mỏi mệt, nắng trưa oi bức mà nước giếng thì trong mát, Chúa Giêsu xin nước uống vì cơn khát, điều này cho chúng ta thấy Đức Giêsu là Thiên Chúa, nhưng Ngài cũng là một con người, với những nhân tính của con người. Tuy nhiên, giữa Đức Giêsu và người thiếu phụ, vẫn có những ngăn cách lớn về chủng tộc, phái tính, văn hóa và tôn giáo: “Ông là ngườí Do Thái mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari cho ông uống nước sao?” ( Ga 4,9 ). Chúa Giêsu không trả lời câu hỏi của người thiếu phụ. Người cảm thông với chị trong nỗi khổ tâm ấy. Người sẽ thay đổi tình trạng ấy bằng một sự vén mở: “Nếu chị nhận ra ơn huệ Thiên Chúa ban và ai là người nói với chị: cho tôi chút nước uống thì hẳn chị đã xin và người ấy ban cho chị nước hằng sống” ( Ga 4,10 ). Người thiếu phụ xin Đức Giêsu thứ nước hằng sống, thứ nước mà chị cần hơn cả thứ nước giếng vốn rất quí đối với những người miền núi. Nhưng lúc rời khỏi nơi đây, Người thiếu phụ đã bỏ chiếc vò đựng nước lại. Bởi lẽ, nơi giếng nước, Người thiếu phụ đã gặp gỡ một nhân vật có khả năng giải thích những vấn nạn mà chị hằng ôm ấp bấy lâu nay. Nhân vật ấy có khả năng giúp chị thoả mãn mọi khát vọng cũng như mở cho chị một chân trời mới, một hướng đi mới. Và qua cuộc đối thoại với Chúa Giêsu, Người thiếu phụ đã cảm thấy được niềm vui chân thật chan chứa trong tâm hồn. Đức Giêsu chính là Đấng ban nước hằng sống để cứu độ những con người tội lỗi, là Đấng ban Chúa Thánh Thần để cho họ có một đời sống mới, đời sống của chính Thiên Chúa.
Trên con đường hành trình xuyên qua sa mạc của Mùa chay, Đức Giêsu cũng đang ngồi bên bờ giếng để mời gọi chúng ta đến kín Nước hằng sống mà chính Ngài sẽ ban cho chúng ta, giải khuây mọi đói khát của cuộc sống và của kiếp nhân sinh. Chúng ta khao khát rất nhiều điều: Khao khát chân lý vì cuộc sống nhiều gian dối. Khao khát tự do trong một xã hội nhiều trói buộc. Khao khát công bình trong một môi trường đầy dẫy bất công. Khao khát yêu thương trong cuộc đời nhiều thù hận. Khao khát hạnh phúc trong cảnh sống bất hạnh. Khao khát niềm tin giữa cảnh đời nhiều nghi kỵ
Khi con người sống trong tình thân với Thiên Chúa thì cũng giống như sống bên nguồn nước tươi mát; còn khi họ tách rời Thiên Chúa thì phải khốn khổ như đang ở trong sa mạc khô cằn. Vì thế, Thánh Phaolo trong bài đọc thứ hai nói với chúng ta: “ Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần Người ban cho chúng ta” ( Rm 5,5 ). Người thiếu phụ xứ Samari mặc dù đang ở bên giếng nước nhưng cõi lòng vẫn khát khao, sự thèm khát một tình nghĩa đậm đà. Người thiếu phụ tưởng rằng tình đời sẽ thỏa mãn được cơn khát ấy nên đã lăn xả vào những cuộc phiêu lưu tình ái. Nhưng đã trải qua 5 đời chồng rồi, nay đã là đời chồng thứ 6 mà Người thiếu phụ vẫn còn khát. Chỉ sau khi gặp được Đức Giêsu, trò chuyện với ngài và được Ngài ban cho thứ nước siêu nhiên là tình nghĩa với Chúa thì Người thiếu phụ mới hết khát: “Như nai rừng mong mỏi. Tìm về suối nước trong. Hồn con cũng trông mong được gần Ngài, lạy Chúa” ( Tv 42 ). Người thiếu phụ còn chạy vào làng rủ thêm nhiều người đến với Đức Giêsu, nguồn Nước hằng sống đích thực ( Ga 4, 29-30 ).
Cũng như Người thiếu phụ xưa kia, mỗi Chúa nhật, chúng ta quây quần bên bàn tiệc Thánh Thể để gặp gỡ Chúa và để lắng nghe Lời Ngài nói. Chúng ta tiếp tục được rước lấy Mình Thánh Chúa và uống Máu Thánh Của Ngài để tiến sâu vào mối dây liên hệ mật thiết với Chúa mỗi ngày một khăng khít và bền chặt hơn. Rồi sau mỗi Thánh lễ, chúng ta mang chính nguồn sống mà chúng ta đã lãnh nhận là Chúa Giêsu Thánh Thể, để từ nguồn sống cao quí thiêng liêng ấy, chúng ta có thể hướng dẫn người khác đến với Chúa. Có như thế, nguồn sống và lương thực mà Thiên Chúa thông ban cho chúng ta qua cuộc gặp gỡ Người trong mỗi Thánh lễ, mới trở nên như những nguồn nước tươi mát, mang sức sống mãnh liệt cho đời sống của mỗi chúng ta, cũng như xã hội mà chúng ta đang sống.
Linh mục Giuse Phan Cảnh
ĐCV Thánh Phaolo Lê Bảo Tịnh Thanh Hóa
BÀI VIẾT LIÊN QUAN