THÁI ĐỘ CỦA GIÁO HỘI VỚI CHỦ NGHĨA VÔ THẦN
TỪ SAU CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II

Chủ thuyết vô thần xuất hiện trong lịch sử Châu Âu với mục đích là “mong muốn con người được giải thoát khỏi Thiên Chúa, bởi vì họ cho rằng Thiên Chúa làm cản trở sự tự trị của con người. Theo đó, “vô thần” (atheismus) không có nghĩa là chống lại các thần linh cho bằng nhắm đến Thiên Chúa của Kitô giáo. Do đó, vô thần (atheismus) có nghĩa là phủ nhận Thiên Chúa, chối bỏ sự hiện hữu của Thiên Chúa. Thực vậy, các thuyết vô thần đã có một lịch sử lâu dài, ngay từ thời các triết gia Hy Lạp cổ đại, nhưng đó là những chuyện lẻ tẻ. Vào thời cận đại, tầm ảnh hưởng của nhiều học thuyết vô thần không chỉ giới hạn trong các câu lạc bộ triết học hoặc giảng đường đại học, nhưng đã gây ảnh hưởng đến những đường lối chính trị, văn hoá tại nhiều quốc gia. Ngày nay, chủ nghĩa vô thần không đơn thuần chỉ là một triết thuyết, nhưng hơn thế nữa, nó là một văn hoá, một lối sống. Nó đang chuyên chế trên con người, trên thái độ sống và luật lệ của con người, trên công việc và thời gian của con người, trên nghệ thuật và đời sống cộng đồng của con người. Nói cách khác, chủ nghĩa vô thần đang xâm chiếm trên mọi lĩnh vực của con người. Trước những thay đổi không nhỏ của thuyết vô thần như thế, Giáo hội có cách tiếp cận vấn đề như thế nào và thái độ của Giáo hội Công Giáo với người vô thần đã thay đổi ra sao?
- Giáo hội Công giáo với người vô thần.
Với tinh thần của Công đồng Vaticano II, Giáo hội chủ trương xích lại gần những người vô thần bằng đối thoại cởi mở và tinh thần tôn trọng hơn. Thực vậy, kể từ sau Công đồng Giáo hội không chủ trương dùng sức mạnh hay biện pháp khai trừ, lên án để đối phó với vô thần, nhưng chủ trương trình bày giáo lý cách thích hợp hơn, nêu cao chứng tá đời sống, rèn luyện một đức tin sống động, trưởng thành, biết nhập cuộc để xây dựng bác ái, công bình, nhất là cho người nghèo khổ. Bởi vì vô thần hiện đại mang tính chất hiện sinh hơn lý thuyết nên phương thuốc phải dùng để đối lại với vô thần cũng phải nhắm trước tiên vào đời sống cụ thể hơn là tranh luận và đấu trí.
- Tôn trọng
Trước công đồng Vaticanô II khi nhìn vào Giáo hội, người ta vẫn hình dung Giáo Hội như vị quan tòa xét xử, sẵn sàng kết án và trục xuất khỏi Giáo hội những thành phần chống đối hay những chủ trương phi bác sự hiện hữu của Thiên Chúa. Bởi trước đây Giáo Hội quan niệm rằng những quan điểm, lập trường của những người vô thần và các tôn giáo khác là sai lạc, thế nên Giáo hội không ngần ngại lên án, chống đối các lập trường, quan điểm của họ cách mạnh mẽ. Thực vậy, trong hiến chế “Dei Filius” về đức tin công giáo (24/4/1870), công đồng Vaticanô I đã lên án tất cả những sai lầm thời đại liên quan đến quan điểm về Thiên Chúa nghĩa là bao gồm cả thuyết vô thần trong đó. Tuy nhiên, với tinh thần của công đồng Vatican II, Giáo hội đã thay đổi lập cái nhìn và thái độ của mình khi đối diện với chủ nghĩa vô thần. Thay vì lên án chống đối, Giáo hội thấy cần trình bày giáo lý cách cởi mở hơn, không lên án một cách tiêu cực nhưng cố gắng để hiểu biết những vấn đề đích thực của người vô thần, song song với đó là một thái độ thành thực chấp nhận để vô thần chất vấn mình và sáng suốt kiểm điểm chính mình. Nói cách khác, Giáo hội giờ đây có thái độ tôn trọng dành cho người vô thần. Thực vậy, trong thông điệp Đức tin và lý trí, Đức Gioan Phaolô II đã dùng những lời tốt đẹp dành cho khoa học, cho triết học về những điều họ đã mang lại cho xã hội. Ngài nói: “Về phần mình, Giáo hội phải thán phục những nỗ lực của lý trí để đạt tới những mục tiêu làm cho cuộc sống nhân sinh ngày càng xứng đáng hơn. Quả thực, Giáo hội nhận thấy nơi triết học một phương cách nhận biết những chân lý nền tảng, liên quan đến cuộc sống con người. Đồng thời Giáo hội coi triết học như một trợ lực không thể thiếu để thấu hiểu đức tin và truyền thông chân lý của Tin Mừng cho những ai chưa biết đến.” Như vậy, thay vì lên án những người vô thần, chúng ta cần phải nhìn vào thực tế những điều họ làm, những đóng góp họ dành cho xã hội, cho con người để tôn trọng họ. Giáo hội chỉ lên án, bác bỏ thuyết vô thần chứ Giáo hội không phi bác người vô thần. Do đó, Giáo hội phàn nàn về sự kỳ thị giữa người tín hữu và người vô thần do một số nhà lãnh đạo quốc gia gây ra một cách bất công.
- Đối thoại
Để sự tôn trọng được nhìn nhận, không gì hơn là Giáo hội phải thực hiện cuộc đối thoại với người vô thần. Quả thực, việc đối thoại rất quan trọng không chỉ cho Giáo hội mà còn cho cả người vô thần. Đối thoại để nghe tiếng nói của đối phương. Đối thoại để hiểu những giá trị ẩn khuất đàng sau. Và hơn hết, đối thoại để cùng nhau xây dựng một thế giới văn minh, tình thương. Công đồng Vatican II nhìn nhận rằng: “Giáo hội dù hoàn toàn bác bỏ thuyết vô thần, nhưng vẫn thành thực tuyên bố rằng mọi người, dù tin hay không tin, cũng đều phải trợ lực cho việc xây dựng thế giới này được hợp lý, là nơi họ đang chung sống. Điều ấy chắc chắn không thể có được nếu thiếu cuộc đối thoại thành thực và khôn Ngoan.” Thế nhưng, Giáo hội, nhất là người Kitô hữu phải đi vào cuộc đối thoại với người vô thần như thế nào? Phải chăng chúng ta giảng dạy giáo lý cho họ? Hay phải chăng chúng ta chỉ cho họ biết những điều sai trái của họ? Không. Điều đó không bao giờ là một cuộc đối thoại. Theo gương Đức Kitô, người Kitô hữu đi vào cuộc đối thoại với một tình yêu thương, cảm mến và bao dung. Người tín hữu sống hoà mình giữa đồng loại, bày tỏ cho họ thấy tình thương của Thiên Chúa qua các việc làm cụ thể. Người Kitô hữu cũng học hỏi sự khiêm tốn dịu hiền của Đức Kitô. Bên cạnh đó, “Giáo hội cũng mời gọi những người vô thần nghiên cứu Phúc Âm Chúa Kitô với một tâm tình cởi mở, chân thành.”
Mặt khác, trong tinh thần đối thoại, Giáo hội cũng tiếp thu những quan điểm của họ. Sự tiếp thu này giúp ích cho Giáo hội rất lớn trong nhiều lãnh vực, nhất là về khía cạnh con người: “Giáo hội ý thức rõ muốn hiểu biết con người sâu xa không thể chỉ dựa vào thần học mà bỏ quên những đóng góp của các ngành kiến thức khác, mà chính thần học phải tham khảo… Nhờ các ngành khoa học này, Giáo hội có thể hiểu chính xác hơn con người trong xã hội, có thể ngỏ lời với con người hiện nay một cách thuyết phục hơn và thực hiện có kết quả hơn nhiệm vụ của mình là đưa Lời Chúa và đức tin vào trong lương tâm và trách nhiệm xã hội của thời đại chúng ta.”
Sự kiện Đức giáo hoàng Bênêdictô XVI mời các Giáo hội Kitô khác, các tôn giáo trên thế giới và cả những người đang thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa, những người không tin có Thiên Chúa, tức những người vô thần cầu nguyện cho hoà bình tại Assisi ngày 27.10.2011 là minh chứng cho một cuộc đối thoại giữa Giáo hội và những người vô thần.
- Lên tiếng và làm chứng.
Giáo hội tôn trọng và đối thoại với người vô thần nhưng như thế không có nghĩa là Giáo hội im lặng trước những gì trái với chân lý mà họ đưa ra. Bởi sứ mạng của Giáo hội là làm chứng cho sự thật. Thực vậy trong hiến chế về mục vụ số 21 quả quyết rằng: “Giáo Hội rất đau lòng nhưng vẫn cương quyết tiếp tục lên án, như đã từng lên án những chủ thuyết vô thần và những hành động nguy hại đi ngược lại lý trí và kinh nghiệm chung của con người và làm cho con người mất đi sự cao cả bẩm sinh của mình.”
Trải qua hơn hai ngàn năm, Giáo hội chứng kiến biết bao vị anh hùng tử đạo đã đổ máu đào để làm chứng cho sự thật và niềm tin của mình. Ngày nay trách nhiệm đó vẫn còn được đặt trên vai Giáo hội dù rằng đôi khi tiếng nói đó quá yếu ớt, như Đức Giáo hoàng Benêđictô XVI đã trả lời trong cuộc phỏng vấn của nhà báo Peter Seewald: “Ngay thế kỷ trước, Giáo hội cũng đã phản kháng lại những nền độc tài lớn. Và ngày nay, chúng ta đau buồn khi thấy sự phản đối của Giáo hội quá yếu, tiếng nói phản kháng của chúng ta đã không kiên quyết và đủ lớn cho thế giới nghe…” Giáo hội luôn lên tiếng để cho chân lý được ngự trị. Để làm được điều đó Giáo hội phải tự đổi mới và không ngừng tinh luyện chính mình. Điều này trước hết nhờ bằng chứng của một đức tin sống động và trưởng thành. Thực vậy, đức tin đó phải biểu lộ sự phong phú của mình bằng cách thấm nhập vào toàn thể đời sống của các tín hữu, kể cả đời sống thế tục, và thúc đẩy họ sống công bằng, bác ái nhất là đối với người nghèo khổ. Hơn hết, chính là đức ái huynh đệ của các tín hữu khiến những người vô thần sẽ đồng tâm nhất trí cộng tác cho đức tin Phúc Âm.
Qua đó ta thấy rằng, thái độ của Giáo hội với người vô thần sau Công đồng Vatican II là sự kết hợp giữa tôn trọng, đối thoại và làm chứng cho niềm tin. Giáo hội không áp đặt niềm tin, nhưng thay vào đó, mở ra các cơ hội cho đối thoại và hợp tác trong các vấn đề nhân sinh. Tuy nhiên, Giáo hội vẫn tiếp tục làm chứng về niềm tin của mình với một đức tin sống động và trưởng thành, bằng cách tự đổi mới chính mình, thúc đẩy cuộc sống công bằng, bác ái và hiệp nhất với nhau để trở nên chứng tá cho sự hiện của Thiên Chúa trong thế giới.
Chủng sinh: Phaolô Nguyễn Văn Trọng
Lớp Thần III – Khóa IV
BÀI VIẾT LIÊN QUAN