CÔ ĐƠN TRONG ĐỜI CHỦNG SINH – LINH MỤC LÀ THẬP GIÁ HAY VINH QUANG

Hạnh phúc là khao khát và là cùng đích của con người. Thế nhưng, trên hành trình tìm kiếm, đau khổ – mặt trái của nó là rào cản, như “bóng theo hình” làm cho con người chỉ nhìn thấy hạnh phúc xa xa, mờ mờ, ảo ảo, không thể bám lấy. Cảm giác đó khiến chúng ta bất lực, và tưởng như đạt được hạnh phúc là điều không thể. Đó cũng là lý do khi sinh ra mỗi người thường chọn cho mình một lối sống đẹp nhất, thuận lợi nhất có thể. Vậy, giữa bao nhiêu chọn lựa, tôi đã chọn “đời sống tu trì”, liệu có phải con đường đưa đến hạnh phúc ? Một vài tản mạn sau đây do suy tư cá nhân, sẽ được được trình bày rõ hơn.
Linh mục Nguyễn Sang có câu: “Không có con đường nào dẫn đến hạnh phúc, hạnh phúc chính là con đường”. Vậy, lựa chọn đi tu có phải là con đường mình đang hạnh phúc, hay chỉ là một phép thử hoặc thôi thì đã đâm lao thì phải theo. Có lẽ, không có được câu trả lời đích đáng trước mặt nhiều người, tùy cách cảm nhận từng người mà có những phản ánh khác nhau. Còn đối với tôi, đời tu lúc nào cũng có thánh giá, khi nào cũng có hạnh phúc. Xin được tản mạn đôi điều, trong đó lược qua các giai đoạn chính yếu của một ơn gọi linh mục triều: trước khi đi tu, giai đoạn chủng viện, sau chủng viện (thời kì thi hành sứ vụ mục tử, nghỉ hưu, bệnh tật và đối diện với các chết gần kề).
Thập giá và vinh quang trước khi đi tu. Thập giá – run rẩy trong lựa chọn. Đây là giai đoạn ấp ủ ước mơ từ trời, không dám chia sẻ, cũng không ai hiểu cho, chỉ dựa vào khả năng tự quyết là chủ yếu. Chính những suy nghĩ non trẻ, khiến tôi đau khổ trong lựa chọn, bị giằng co giữa: một ý, hiến dâng cho Chúa, ý khác, nuối tiếc cuộc sống đầy màu hồng, bao khát vọng đang chờ đợi, tuổi thanh xuân chỉ có một lần. Giữa một câu hỏi to lớn như thế mà phải lặng lẽ quyết định một mình. Thật là mạo hiểm ! Lúc đó, nếu không nói là bản thân đang đứng giữa “ngã ba đường”, thì phải nói là đứng giữa ngã (n) chứ. Thế mà, Chúa vẫn không thiếu cách gọi tôi, cách đó như thế nào thì tôi không rõ. Nhưng, đâu đó, hương vị của vinh quang khiến tôi không thể không chọn Chúa. Trong âm thầm, Chúa đã trả lời giúp tôi những câu hỏi thập giá trên. Không ai hiểu tôi, Chúa hiểu. Không ai giúp tôi quyết, Chúa giúp. Không ai lấp được khoảng trống trong tôi, Chúa làm luôn. Có thể nói, cô đơn trước chủng viện là vinh quang khởi đầu – dấu chỉ của bàn tay vô hình đã đụng chạm đến tôi, ngay khi tôi chưa định hình được cuộc đời mình.
Thập giá và vinh quang giai đoạn đào tạo. Thập giá – sự chọn lựa một viên kim cương giữa ngàn viên. Muốn thành viên kim cương đích thực, tôi phải trải qua nhiều năm, giai đoạn, thử thách khác nhau. Bao gồm: Đời sống kỷ luật nghiêm, mất tự do, thiếu phương tiện xã hội, nếp sống tách biệt, sự cô đơn vì thiếu tình cảm nam nữ. Bên cạnh đó là những khủng hoảng nội tâm: hoài nghi về khả năng yếu ớt, quá khứ tội lỗi, tương lai mịt mù. Chưa kể đến, những xung đột cộng đoàn, khác biệt tính cách, cô đơn trong cầu nguyện khi không cảm thấy Chúa hiện diện, thậm chí cả vấn đề bệnh tật. Đôi lúc, khiến tôi thật sự giống như hạt lúa mì bị chôn vùi mà không thể mọc lên. Chính lúc bị thử thách trăm bề, vinh quang của đức tin đã giúp tôi đứng vững. Cụ thể, tình yêu của Thiên Chúa mỗi ngày được khắc ghi rõ nét, mặn mà trong trái tim tôi. Không phải Ngài giúp tôi vượt qua thử thách bằng cách làm thay, nhưng đi cùng, hướng dẫn, dìu dắt, gợi lên lòng khao khát tâm hồn mục tử, khiến tôi không thể rời bỏ lời mời này, càng không dám phản bội. Bên cạnh đó, tuy nhiều rào cản nhưng qua trau dồi tri thức, kinh nghiệm thiêng liêng trong cầu nguyện, qua dòng thời gian bươn trải, luôn có điều gì đó như “ngọn lửa” thôi thúc tôi sống thánh. Chứng tỏ ơn Chúa tuôn đổ bằng nhiều cách trên cuộc đời, ngay cả lúc tôi không ngờ. Chính qua những thử thách dù là do cuộc đời này mang lại hay do Chúa đều giúp cho tôi lớn lên và hiểu rằng: Yêu Chúa không phải bằng cảm xúc nhưng phải bằng tình yêu, mà đã bằng tình yêu thì chắc chắn phải có “đau khổ”. Nhưng đau khổ đó là đau khổ của niềm hy vọng – hy vọng chan chứa.
Thập giá và vinh quang giai đoạn thi hành sứ vụ mục tử. Khi nghe bài hát “Từ ngàn xưa” với câu: “Từ bụi tro Chúa nâng con lên hàng khanh tướng”, có vẻ đời linh mục chỉ có niềm vui thôi, không hề có nỗi khổ. Thực tế, không phải thế đâu ! Đây là giai đoạn vị mục tử gặp khó khăn, phải thật sự chết đi cho Chúa và mọi người thì mới vượt qua được. Bởi lẽ, làm linh mục đâu chỉ dâng lễ, nào là: Cô đơn khi đứng giữa bao nhu cầu mục vụ mà không có người đồng hành. Cô đơn khi bị hiểu lầm, phê bình, hay phải đưa ra những quyết định khó khăn. Cô đơn của sự hy sinh tình cảm: yêu thương nhiều người nhưng không thuộc riêng ai. Làm việc cả ngày, đêm về lại lủi thủi một mình trong căn phòng không mấy thú vị, rồi nhìn ra ngoài sân, chỉ thấy bóng mờ của cây cột điện năng lượng bám đầy sương, mọi sự xung quanh đều im lặng (báo hiệu đêm khuya rồi linh mục ơi), khoảng trống đó ai hiểu nổi, ai lấp đầy. Cô đơn của trách nhiệm: linh mục không thể bỏ cuộc, ngài phải đứng vững dù tâm hồn kiệt sức. Ít ai nghĩ rằng, linh mục cũng cần nghỉ ngơi, cần an ủi, họ chỉ biết đòi hỏi, không biết thấu hiểu. Cô đơn trong chiến đấu thiêng liêng: cám dỗ, khô khan, mệt mỏi tâm linh. Đời sống cầu nguyện là lương thực duy nhất giúp linh mục tự vực dậy chính mình mỗi khi gục ngã. Thế mà, không thiếu lúc cảm giác như Chúa cũng bỏ ngài. Ôi ! Thập giá đời linh mục, mang mùi chiên nhưng vẫn phải đi trước đàn chiên. Những gì chúng ta kể trên thuộc cảm tính của con người, linh mục được Chúa Kitô mời gọi sống vượt lên những cám dỗ đó. Hình ảnh duy nhất giúp vị mục tử này có thể vượt qua được chính là chiêm ngắm “Đấng cô đơn trong vườn Cây Dầu và trên thập giá”. Chúa Giêsu trong hai thời điểm đó, làm gì có ai an ủi, xoa dịu, quan tâm, thấu hiểu, nhất là lòng thương xót của Ngài bị loài người chối từ. Khi nghĩ vậy, tôi lại cảm thấy có động lực hơn hết và tiếp tục dấn thân. Chính lúc bị hiểu lầm, linh mục hiểu sâu hơn tình yêu hy sinh của Chúa, được thông phần đau khổ với Ngài, không phải không còn gì để mất nhưng tôi đã được tất cả, vì Đấng đã hứa ban thưởng cho tôi. Chính trong những đêm dài vắng lặng, lời cầu nguyện trở nên chân thật nhất. Trong những bộn bề của ngày làm việc cũng là điều tốt, nhưng đôi khi cũng không tốt cho sứ vụ linh mục. Vì ngài không thể thiếu một đời sống kết hợp với Chúa, mà ồn ào thì không thể kết hợp. Vì vậy, lúc mà người đời tưởng ngài cô đơn nhất chính là lúc ngài trở về với chính mình, tạ ơn Chúa trong ngày sống, và tiếp tục kín múc sức lực cho ngày mới qua giấc ngủ bình an. Chính khi không ai nâng đỡ, linh mục nhận ra Chúa là nơi duy nhất để tựa nương. Thế gian này chỉ cho ta nương tựa khi ta còn có giá với họ, còn Chúa thì không, Ngài luôn bao bọc con ngay cả khi con chẳng còn là chính mình. Khi suy niệm như vậy, tôi cảm thấy cái giá của cô đơn đời linh mục quả thật là cuộc hiến tế có giá trị không bờ bến trước mặt Chúa.
Thập giá và vinh quang khi vị mục tử sống hiu quạnh trong nhà hươu. Người ta về già, “con đàn cháu đống”, còn ta như kẻ bị bỏ rơi. Thập giá này làm sao vác nổi. Trước đây, sức dài vai rộng, người đời tưởng “một tay che cả bầu trời”, nay bị lãng quên chốn này. Thập giá nối tiếp Thập giá. Thập giá vì Linh mục khi lớn tuổi cảm thấy mình không còn hữu ích. Từ khi rời xứ đến giờ, mạnh giỏi chăng giáo dân kéo đến 2-3 lần vào dịp tết, lễ. Nhưng chỉ được năm đầu, năm hai, năm ba họ quên luôn, vì có cha xứ mới trẻ, khỏe, năng động, quan tâm giáo dân. Những năm tháng cống hiến, xây cất có vẻ trở thành con số “Zézo”, nếu không dám nói là cảm giác như bị phản bội. Niềm hy vọng, sự chờ đợi cú điện thoại, dòng tin nhắn từ người thân hoặc giáo dân để thời gian trong ngày trôi nhanh hơn cũng khó có được. Giáo dân cũ thì bận rộn, giáo dân mới thì không biết ngài. Ôi ! nếu không dám nói là tồi tề thì cũng nói: “tôi không hạnh phúc cho lắm”. Thêm vào đó, ngồi thở, ngắm cảnh, đi ra đi vào cũng thấy mệt mỏi. Linh mục càng suy sụp tinh thần, vì sức khỏe giảm sút. Từ nay, phải sống lệ thuộc gần như hoàn toàn, chưa kể đến bệnh tật đủ thứ. Liệu còn tìm được chút nào mang tên “vinh quang” trong những Thập giá đó không. Thưa có ! Về bề ngoài, khi về hươu cũng là lúc ngài được giải thoát khỏi những định kiến, áp lực, đòi hỏi từ giáo dân. Lúc này là cơ hội để ngài thực sự trở thành người cha thiêng liêng của mọi người (vì không còn đụng chạm đến ai, chỉ cầu nguyện cho họ). Đồng thời là thời gian vàng để ngài làm hòa với quá khứ, tha nhân, chính mình qua mối liên kết thân tình với Chúa trong cô tịch, lặng lẽ. Linh mục cần hiểu rằng, đối với Chúa, sự đóng góp của ngài khi về già không thua kém gì như trước đây. Qua những Thánh lễ sốt sắng, lời kinh thần vụ, lần hạt, suy niệm, đời sống cầu nguyện và tu đức,.. mắt thường không nhìn thấy nhưng hiệu quả lại tràn trề ân sủng.

Thập giá và vinh quang khi bệnh tật, đau yếu. Theo nghĩa người đời, linh mục làm gì có ai là người thân, máu mủ, ruột thịt. Ngài một thân, một mình hy sinh cả cuộc đời làm cho người khác được sống, được hạnh phúc, nay đến lượt mình, ai thấu cho. Từ một con người hiểu biết, mạnh mẽ, can đảm, quyết liệt, không quản ngại bất cứ điều gì, nay bệnh tật làm cho yếu đuối của phận người lộ ra. Linh mục thấy mình không còn có ích. Ngay cả bộ quần áo, đôi giày cũng cần người đưa người cởi. Thể lý đã đành, nỗi đau tinh thần còn sót xa hơn. Có khi bị bó buộc trong phòng bệnh, xa rời bàn thờ, xa rời Chúa. Lúc cần Chúa nhất thì lại xa Chúa, không thể làm gì khác, bất lực. Có thể nói, dưới góc độ con người có thể hiểu, thì đây là sự cô đơn, đau đớn cực điểm. Ôi ! những giọt nước mắt không biết tại sao lại rơi. Thập giá giây phút cuối đời – khởi đầu của vinh quang bất tận. Có điều chúng ta nên hiểu, sự hiện diện của Thiên Chúa không phải để đáp ứng hết tất cả những nhu cầu vật chất của con người. Nhưng, Ngài muốn đưa chúng ta đến điều cao thượng và hạnh phúc viên mãn bằng cách kết thúc mọi sự trần gian này. Thiên Chúa chỉ thật sự ra tay khi con người bó tay, bất lực. Do vậy, chính lúc linh mục cảm thấy bất lực nhất là lúc ngài có sức mạnh hơn cả, không bởi bản thân, nhưng bởi Chúa. Đây cũng là cơ hội để vị linh mục già, chân tay run rẩy, miệng không thốt nên lời đặt trọn niềm tin, phó thác nơi Chúa – Đấng thiện hảo. Thật vậy, chính lúc bệnh tật là lúc người tôi tớ trung thành già nua được hiệp thông sâu xa với Thập Giá Chúa.
Thập giá và vinh quang khi đối diện với cái chết gần kề. Có thể nói, Thập giá nặng và khó chấp nhận nhất của đời người chính là cái chết, trong đó không ngoại trừ linh mục. Cái chết là điều không ai có thể thay thế cho ai. Nó là phương án buộc mỗi người phải lựa chọn khi chỉ có một cách duy nhất. Lúc này, dù có giáo dân, anh em linh mục, gia đình đứng quanh hoàn toàn vô nghĩa, cái chết vẫn là hành trình của một mình. Đỉnh cao của Thập giá chính là lúc này: chân tay lạnh dần, hơi thở thoi thóp, nhịp đập trái tim dần yếu. Đau khổ nhân lên, khi linh mục đối diện với bao ký ức, thành công, thất bại, tội lỗi ùa về, bên cạnh đó sợ mất ân sủng vì những thiếu sót. Cô đơn, nỗi sợ ấy rất thật, rất con người, rất mong manh. Nỗi cô đơn rất thực đó chưa ai trải qua bao giờ, mỗi người chỉ một lần duy nhất, lần đầu cũng là lần cuối nên không ai có thể hiểu sự thật như nó “là”. Giờ cực điểm này, vị tôi tớ già, ngay cả phó linh hồn cho Chúa không làm nổi, chỉ trông chờ vào lòng thương xót của Ngài. Đó là hành trình của một con người. Tuy trong đức tin, sự sống của chúng ta không chấm dứt ở nấm mồ, cái chết là cánh cửa mở ra để đón sự sống mới. Giờ đây, tuy nhắm mắt lìa đời, người đời cho rằng họ gặp điều vô phúc, nhưng đối với Thiên Chúa mọi sự đều sống. Chính trong giờ phút này, linh mục mới cảm nhận được tiếng khóc vang vọng trên Thập Giá, Chúa Giêsu đau khổ là một phần nhưng thương xót là chính yếu. Linh mục cần trông cậy hết sức, can đảm chống chịu trong giờ phút đau thương nhất này, giây lát nữa thôi ngài sẽ được ngắm nhìn Đấng xưa đã hứa với người trộm lành: “Ngay hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng”. Chính Người cũng sẽ nói với người tôi tớ này y như vậy.
Nhìn lại toàn bộ hành trình ơn gọi – từ những bối rối ban đầu khi phân định, những năm tháng miệt mài trong chủng viện, cho đến đời sống mục tử, về hưu, bệnh tật và cận tử, tôi nhận ra rằng cô đơn chính là người bạn đồng hành trung tín nhất của đời tu và đời linh mục. Nhưng nghịch lý nhiệm mầu là: nơi nào có cô đơn, nơi ấy lại ẩn chứa cả thập giá lẫn vinh quang. Cô đơn khiến trái tim người tu sĩ trần trụi trước sự thật về chính mình: mong manh, bất toàn, dễ tổn thương. Cô đơn làm lộ diện mọi vết thương tâm linh, mọi khát vọng chưa thành, mọi ký ức chưa lành. Nhưng cũng chính trong khuôn mặt nghiệt ngã ấy, một khuôn mặt khác âm thầm xuất hiện: khuôn mặt của Đức Kitô, Đấng đã cô đơn tột cùng trong vườn Cây Dầu và trên Thập Giá. Vì thế, cô đơn không chỉ là gánh nặng phải chịu, nhưng là nơi gặp gỡ. Ở đó, người linh mục hiểu rằng ơn gọi không được nuôi bằng tiếng vỗ tay, cũng không được nâng đỡ bằng sự hiểu biết của người đời, nhưng được giữ vững bằng tình yêu âm thầm giữa linh hồn và Thiên Chúa. Ở đó, thập giá trở thành lớp lửa thanh luyện, còn vinh quang lại là hoa trái của sự thuộc trọn về Chúa. Cô đơn trong sứ vụ, trong căn phòng tối, trong những hiểu lầm, trong buổi chiều của tuổi già, hay trong giây phút hơi thở cuối cùng – tất cả đều trở thành những giờ phút thánh, nơi vị linh mục được thông phần sâu nhất vào mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô. Do đó, cô đơn không phải là Thập Giá, cũng không hẳn là vinh quang, nhưng là nơi tình yêu chín muồi, là nơi linh mục trở nên giống Chúa Giêsu hơn bao giờ hết: một mình nhưng không bao giờ bị bỏ rơi, yếu đuối nhưng lại được nâng đỡ bởi ân sủng vô biên. Chính nơi điểm giao thoa giữa bóng tối của thập giá và ánh sáng của vinh quang phục sinh, đời linh mục bừng lên ý nghĩa sâu xa nhất: trở nên “bánh bẻ ra”, trở nên “một đời được hiến dâng đến cùng”, và trở nên chứng tá rằng tình yêu Thiên Chúa mạnh hơn mọi nỗi cô đơn của phận người.
Chủng sinh: Giuse Sùng A Kỷ
Lớp thần III – Khóa IV
BÀI VIẾT LIÊN QUAN