CON NGƯỜI CÓ MẤT TỰ DO TRƯỚC SỰ QUAN PHÒNG CỦA THIÊN CHÚA KHÔNG ?

Dẫn nhập
Ai cũng nhìn nhận rằng, trong vũ trụ con người cao quý hơn mọi loài sinh vật khác. Sở dĩ như vậy là vì con người được Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh của Ngài (x. St 1,26), được ban cho có linh hồn thiêng liêng, lý trí và đặc biệt là “tự do”. Chính tự do là một trong những dấu chỉ căn bản nhất cho thấy con người là hữu thể có ngôi vị, có khả năng tự ý hành động, chọn lựa và chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
Tuy nhiên, trong lịch sử tư tưởng nhân loại, khái niệm tự do đã được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Có những trào lưu nhấn mạnh đến tự do như khả năng làm bất cứ điều gì mình thích, theo kiểu: “mình thích thì mình làm thôi”. Trái lại, có những quan điểm nghiêm khắc hơn cho rằng tự do hệ tại ở việc tuân giữ luật luân lý và trật tự khách quan. Chính sự đa dạng và sự mâu thuẫn về cách hiểu về tự do đã làm nảy sinh câu hỏi: Phải chăng con người thật sự không còn tự do, hoặc đã đánh mất tự do của mình?
Một trong những nghi vấn lớn nhất được đặt ra là mối tương quan giữa “tự do của con người” và “sự quan phòng của Thiên Chúa”. Có người cho rằng: nếu Thiên Chúa quan phòng mọi sự, an bài mọi biến cố, thì tự do của con người dường như bị thu hẹp và thậm chí là bị biến mất. Nói cách khác, sự quan phòng của Thiên Chúa bị xem là mâu thuẫn với tự do của con người.
Vấn nạn này chỉ có thể được giải quyết khi ta hiểu đúng cả hai thực tại: tự do đích thực của con người và sự quan phòng của Thiên Chúa.
1. Tự do đích thực của con người
Trước hết, cần khẳng định rằng, nguồn gốc của tự do chính là Thiên Chúa. Theo Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, tự do là khả năng Thiên Chúa ban cho con người, để họ có thể nhận thức, chọn lựa, quyết định và chịu trách nhiệm về các hành vi của mình. Trong con người, sự tự do là một sức mạnh để tăng trưởng và trưởng thành trong chân lý và điều thiện. Sự tự do đạt tới mức hoàn hảo, khi nó được quy hướng về Thiên Chúa, là vinh phúc của chúng ta. (x. GLHTCG, số 1731).
Như vậy, Tự do không chỉ đơn thuần là khả năng làm hay không làm, nhưng là khả năng hành động có ý thức, có trách nhiệm và đạt tới mức hoàn hảo khi quy hướng về Thiên Chúa là Sự Thiện tối hậu. Vì thế, Tự do thật thì không bao giờ tách rời khỏi chân lý và điều thiện; trái lại, tự do đích thực chỉ được hoàn thành trong việc phục vụ sự thật, như thánh Tông đồ nói:“Các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông.” (Ga 8,32).
Tóm lại, tự do không phải là sự phóng túng hay tùy tiện, mà là năng lực nội tại giúp con người tự nguyện gắn bó với điều thiện, nhờ đó họ trở thành chính mình hơn.
2. Sự quan phòng của Thiên chúa

Song song với việc hiểu đúng về tự do, ta cần phải làm rõ khái niệm sự quan phòng của Thiên Chúa. Trong truyền thống Giáo Hội, các Giáo phụ đã suy tư về vấn đề này. Thánh Irênê nhấn mạnh rằng sự quan phòng của Thiên Chúa hướng toàn bộ vũ trụ về ơn cứu độ. Thánh Clêmentê thành Alexandria đề cao vai trò của Logos trong việc giáo dục và dẫn dắt nhân loại. Các Giáo phụ khác xem quyền năng của Thiên Chúa được biểu lộ cụ thể trong lịch sử cứu độ như một hành vi quan phòng liên lỉ.
Thánh Tôma Aquinô định nghĩa: sự quan phòng như là sự sắp đặt của Thiên Chúa nhằm dẫn đưa vạn vật đến cùng đích của chúng, và ngài nhấn mạnh rằng quan phòng chính là công trình sáng tạo được kéo dài, qua đó Thiên Chúa không ngừng bảo tồn và điều khiển thế giới.
Theo Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo: sự quan phòng là việc Thiên Chúa chăm sóc và hướng dẫn muôn loài tiến tới sự hoàn hảo mà Ngài muốn (GLHTCG, số 302). Như vậy, sự quan phòng không phải là một hành động áp đặt từ bên ngoài, nhưng là sự hiện diện yêu thương và trung tín của Thiên Chúa trong toàn bộ lịch sử, để bảo tồn sự sống và dẫn đưa sự sống ấy đến sự thành toàn viên mãn.
3. Sự hiểu sai về Quan phòng và định mệnh
Vậy tại sao nhiều người lại cho rằng sự quan phòng của Thiên Chúa mâu thuẫn với tự do con người? Trước hết, sự quan phòng thường bị hiểu lầm như việc Thiên Chúa an bài cứng nhắc mọi sự, như kiểu mọi biến cố của đời sống con người đều đã được ấn định sẵn, không thể thay đổi. Từ đó nảy sinh ý tưởng rằng con người chỉ là những “con rối” trong tay Thiên Chúa. Như vậy, dường như sự quan phòng bị đồng hóa với các quan niệm về số mệnh, định mệnh hay tất định, đặc biệt là khi nói đến thuyết tiền định. Theo cách hiểu đó, con người được sinh ra đều có một số mệnh, giàu nghèo, sướng khổ, được vào thiên đàng hay xuống hoả ngục… đều đã được định sẵn. Như vậy, nếu mọi sự đã được tiền định, thì dường như tự do con người chỉ còn là ảo tưởng. Tuy nhiên, những mâu thuẫn này phát sinh không phải từ bản chất của sự quan phòng, mà từ cách hiểu sai về cả quan phòng lẫn tự do.
4. Sự quan phòng, tiền định và sự cộng tác tự do của con người
Trước vấn đề nêu trên, Giáo huấn của Giáo Hội khẳng định: Sự quan phòng của Thiên Chúa không tiêu diệt tự do của con người, nhưng trái lại, sự quan phòng ấy làm cho tự do của con người có ý nghĩa và cùng đích. Bởi, Thiên Chúa không hành động thay cho con người, nhưng “mời gọi” họ cộng tác vào chương trình của Ngài. Nghĩa là, trong sự quan phòng, con người với lý trí và tự do Thiên Chúa ban được thông phần vào công việc cai quản vũ trụ cùng với Thiên Chúa. Tức là con người cộng tác với Thiên Chúa trong công cuộc tạo dựng, cai quan và bảo vệ thế giới này. Lời mời gọi là biểu trưng của sự tự do, tức là con người có thể cộng tác hoặc đi ngược lại.
Như vậy, ở đây chúng ta có thể hiểu sự tiền định quan phòng của Thiên Chúa là một quy luật bảo tồn của tạo dựng. Theo nghĩa đó, Thiên Chúa là chủ thực hiện công trình sáng tạo duy nhất, và Ngài làm cho nó hoạt động theo một quy luật đã được định sẵn, tồn tại cho đến lúc trời đất này qua đi. Như vậy, sự quan phòng nếu được hiểu theo nghĩa tiền định đó là sự thiết lập trật tự của vũ trụ tự nhiên, tức là quy luật hoạt động của thế giới vật chất, được gọi là quy luật tự nhiên hay định luật vận hành của vũ trụ. Điều này cũng có thể hiểu theo nghĩa phổ quát là sự vận hành của mọi thụ tạo theo một quy luật đã được tiền định, được an bài bởi Đấng Tạo Hoá.
Trong đời sống tinh thần, sự quan phòng của Thiên Chúa hiểu theo nghĩa tiền định được thể hiện qua trật tự hướng thiên, nghĩa là hướng đến sự thiện hảo và đạt tới viên mãn khi chạm đến sự thiện tuyệt đối là chính Thiên Chúa. Quy luật ấy được đặt để nơi tâm hồn của con người, và được gọi là luật của lương tâm, luật hướng dẫn con người về đời sống luân lý.
Như vậy, giữa sự tự do của con người và sự “bảo tồn tự nhiên” được Thiên Chúa thiết lập, hoàn toàn không có sự mâu thuẫn nào. Bởi lẽ, vũ trụ vạn vật tuy vận hành theo những định luật khách quan và tất yếu, nhưng không thể xâm phạm hay chi phối trực tiếp đến nội tại tinh thần của con người, nơi phát sinh ý thức, phán đoán luân lý và hành vi tự do. Trái lại, chính trong khuôn khổ của trật tự tự nhiên ấy, con người được mời gọi sử dụng lý trí và tự do, để cộng tác cách có trách nhiệm với chương trình quan phòng của Thiên Chúa.
Mặt khác, sự quan phòng của Thiên Chúa có thể được hiểu theo nghĩa tiền định phải được đặt trong nhiệm cục cứu độ và lời đáp trả tự do của con người với ơn cứu độ. Biến cố sã ngã trong Thánh Kinh cho chúng ta cái nhìn về tính hữu hạn nơi con người, và cái hệ quả của việc con người lạm dụng tự do. Thiên Chúa biết điều con người sẽ làm, nhưng Ngài vẫn để nó xảy ra vì Thiên Chúa tôn trọng tự do mà Ngài đã ban cho họ. Như vậy, cái tiền định trong sự quan phòng của Thiên Chúa đó là “lời hứa cứu độ” từ đời đời, là “sự yêu thương của Thiên Chúa” và sự tiền định về Đấng Cứu Độ là Ngôi Lời Nhập thể. Tuy nhiên, sự tiền định cứu độ có năng lực cứu độ con người khi họ đáp trả bằng tự do của mình. Nghĩa là, con người với tự do thực hiện sự chọn lựa và quyết định với hành vi đón nhận hay từ chối ơn cứu độ mà Thiên Chúa đã tiền định nơi Đức Kitô Ngôi Lời nhập thể. Như lời của thánh Augustinô đã nói: Khi tạo dựng nên con, Ngài không cần hỏi ý kiến con, nhưng để cứu độ con, Ngài cần con cộng tác. Như vậy, sự tự do của con người không mẫu thuẫn với sự quan phòng của Thiên Chúa nhưng có mối liên hệ khăng khít với sự quan phòng ấy.
Thực tế, Chúng ta vẫn thấy con người thật sự tự do trong sự quan phòng của Thiên Chúa. Thế giới vẫn tồn tại, hoạt động và vẫn tiếp tục được sáng tạo; con người vẫn tiếp tục sống và hành động theo chỉ thị của luật lương tâm với tự do riêng của từng người; Giáo Hội trong vai trò mang ơn cứu độ vẫn tiếp tục thi hành lời truyền dạy của Chúa Giêsu. Thiên Chúa vẫn quan phòng, con người vẫn tự do. Tuy nhiên, tự do cũng đồng nghĩa với trách nhiệm; lạm dụng tự do để hành động thì phải chịu hậu quả nó gây ra, đồng nghĩa với việc khước từ sự quan phòng của Thiên Chúa, cũng đồng nghĩa việc mất tự do đời đời. Như vậy, tự do của con người và sự quan phòng của Thiên Chúa có mối liên hệ với nhau. Sự quan phòng không đối nghịch với tự do, nhưng là khung nền trong đó tự do được triển nở và đạt tới sự viên mãn.
Kết luận
Tóm lại, sự quan phòng của Thiên Chúa không mâu thuẫn với tự do của con người. Trái lại, chính trong sự quan phòng ấy mà tự do của con người được nâng đỡ, định hướng và hoàn thiện. Thiên Chúa không triệt tiêu tự do, nhưng mời gọi con người tham gia vào công trình của Ngài với trách nhiệm và tình yêu.
Mâu thuẫn chỉ xuất hiện khi con người hiểu sai về tự do như sự phóng túng, hoặc hiểu sai về quan phòng như một hình thức tất định cứng nhắc. Khi được đặt đúng trong ánh sáng của mạc khải, ta nhận ra rằng tự do và quan phòng không loại trừ nhau, nhưng bổ túc cho nhau trong mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa.
Chủng sinh: Phêrô Nguyễn Văn Tuấn
Khoá IV – Lớp Thần III
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- HĐGMVN – UBGLĐT, Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, Nxb Tôn Giáo,2010.
- Youcat Việt Nam.
- Angleo Scola – Gilfredo Mareugo – Tavier Prades Lopez, Nhân vi – Nhân Học Thần luận, Luy Nguyễn Anh Tuấn chuyển ngữ, Nxb Tôn Giáo, 2018.
BÀI VIẾT LIÊN QUAN