KITÔ HỮU – BÍ TÍCH CỦA ĐỨC KITÔ

KITÔ HỮU – BÍ TÍCH CỦA ĐỨC KITÔ

           Dẫn nhập

        Giáo hội là muối cho đời và là ánh sáng muôn dân, ánh sáng đó đưa dẫn con người trong thế giới này đến với chân lý đích thật là vinh quang Thiên Chúa[1]. Do đó, căn tính của Giáo hội là loan báo, rao truyền tin mừng hầu quy tụ tất cả vào một mối duy nhất là Đức Giêsu Kitô, kết hợp với Người để đón nhận sự sống thần linh. Dưới khía cạnh đó, mọi thành phần trong thân thể của Hội Thánh đều nhận lấy sứ mạng rao giảng và làm chứng cho Chúa, qua đây, ta thấy không chỉ là khía cạnh lý thuyết – rao giảng chân lý mạc khải, nhưng còn là làm chứng tức là dùng chính đời sống của mình, làm nên một chứng tá mang tính khả tín để nhân loại qua đó mà nhận ra dung mạo của Đức Giêsu Kitô. Có lẽ dịp vừa lễ Giáng Sinh vừa qua là một biến cố để ta thấy rõ những cách thức mang Tin Mừng đến cho những người chưa biết Chúa. Một ngày trọng đại, mà niềm vui được tỏa lan khi các gia đình mời những người không cùng niềm tin tham dự diễn nguyện, nói cho họ biết về Mầu Nhiệm Nhập Thể; các bạn trẻ thì mời bạn bè của mình đến chung vui trong không khí hân hoan và đầy những ánh đèn lung linh,…thêm vào đó, về khía cạnh địa lý, xung quanh các giáo xứ, xen kẽ các xóm đạo luôn có những người không cùng niềm tin, vào những dịp lễ trọng, ngày Chúa Nhật, họ thấy những người có đạo khoác lên mình trang phục chỉnh tề, lịch sự cùng nhau hướng về ngôi thánh đường của giáo xứ. Cùng với đó là lối sống bác ái, yêu thương, gắn bó nhau không chỉ trong gia đình nhưng còn mở ra với làng xóm của người Kitô hữu, tất cả như đặt ra cách thế người Kitô ở giữa thế gian làm chứng cho Chúa.

          1. Trở nên Bí tích của Đức Kitô.

         Giáo Hội xác định rõ ràng Bí tích là những dấu chỉ khả giác bên ngoài, được Đức Kitô thiết lập để diễn tả và ban ơn thánh hóa con người.[2] Từ khái niệm đó cho thấy, Bí tích như là phương thế mà qua đó, Đức Kitô hành động trong lịch sử con người hầu tiếp tục công trình mà Ngài đã thực hiện ở tại thế để đem ơn cứu chuộc đến với con người mọi nơi và mọi thời2

            2. Đức Kitô – Bí tích của Chúa Cha.

        Đức Kitô – Ngôi Lời Nhập Thể làm người, không phải do ý của mình nhưng do ý của Chúa Cha  với mục đích là làm chứng cho Thiên Chúa và cứu độ con người. Qua công trình cứu chuộc trên thập giá, Ngài đã dùng sự sống của mình để đổi lại sự sống con người, giải thoát con người khỏi sự dữ của ác thần, được quy tụ và thánh hóa để con người trở lại tình trạng thánh thiện, tinh tuyền trong vinh quang của Chúa, không dừng lại ở đó, Ngài đã chấp nhận để mũi giáo dâm vào cạnh sườn, mở ra trái tim tình yêu, trao hiến đến tận những giọt nước và giọt máu cuối cùng, là dấu chỉ của kho tàng ân sủng được trao ban cho nhân loại và qua các bí tích trong Hội Thánh, kho tàng đó luôn chảy tràn cho đến ngày quang lâm. Như vậy, nhìn dưới lăng kính của Thần Học Bí Tích, chính Đức Kitô là bí tích của Chúa Cha, để nhờ Người – với Người – trong Người nhân loại được chữa lành những thương tích do tội, được biết đổi từ thân phận thấp hèn lên làm con Thiên Chúa và cuối cùng để ta được làm chúa như lời Thánh Athanasio: “ Thiên Chúa làm người để con người làm thiên chúa ”[3].

          3. Hội Thánh – Bí tích của Đức Kitô.

      Bí tích Thánh Tẩy là cánh cửa mà con người sáp nhập vào Hội Thánh là Thân Thể Đức Kitô, được xóa bỏ tội lỗi và mặc lấy căn tính là con Thiên Chúa, trong Nhiệm Thể đó mỗi người được gọi là Kitô hữu, họ chia sẻ sứ vụ của Đức Kitô là tư tế – ngôn sứ – vương đế, bởi đó, người Kitô hữu trở nên chứng nhân cho Chúa (Lc 24,48), được Chúa mời gọi làm chứng cho Ngài trước thế gian, từ Gierusalem đến tận cùng trái đất (Cv 1,8). Lời mời gọi đó như trở nên lệnh truyền bởi trước trần gian đầy thách thức và  bão tố, con người dễ dàng bị xô ngã nếu không có nơi để bám víu. Như lời than trách mà Phaolô đã nói “làm sao họ kêu cầu Đấng họ không tin? Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe? Làm sao mà nghe khi không được rao giảng?” (Rm 10,14).

         Sứ vụ mà Hội Thánh lãnh nhận từ Đức Kitô, làm chứng cho Thiên Chúa, làm bảo chứng cho sự hiện diện của Chúa nơi loài người và phục vụ trần thế [4]. Sự hiện hữu của Giáo hội như phương thế đưa con người đến với Thiên Chúa, kêu gọi và cải hóa tâm tình nhân loại trong tình yêu cứu độ của Chúa. Trách nhiệm rao giảng mà mỗi người Kitô hữu đã nhận lãnh trong Giáo hội và qua Giáo hội, họ được sai đi. Đó là sự thôi thúc, sự đòi hỏi không thể tránh né vì nó in sâu trong căn tính của mình và còn từ tiếng “hấp hối” của nhân loại nơi những người chưa được biết Chúa. Hướng về cùng đích cứu độ, thư Rôma còn xác định rõ tin thật thì được ơn công chính, nhưng để được ơn cứu độ thì phải tuyên xưng niềm tin đó ra ngoài miệng. Đây chính là ý định của Thiên Chúa khi Ngài không đến để cứu độ một người, một dòng tộc hay một dân riêng, nhưng ơn đó được chảy tràn cho toàn nhân loại. Một đức tin sống động là một đức tin được tỏa ra bên ngoài, như Đức Giêsu đã dùng lời nói và hành động của mình mà làm chứng cho Chúa Cha thì đến mình, Giáo hội và từng chi thể của Giáo hội chia sẻ sứ vụ của Ngài, mang chân lý đến để phục vụ nhân loại. Như vậy, ở nơi thế gian, Giáo Hội là Bí tích cứu độ phổ quát [5] hay là sự hiện diện cách bí tích của Nước Thiên Chúa trong thế giới[6], thì trong lòng của Mẹ Hội Thánh – mỗi người Kitô hữu cũng có thể gọi là một “Bí tích sống” giữa nhân loại.

           4. Kitô hữu – “Bí tích Sống” trong nhân loại.

        Huấn quyền Giáo hội khẳng định rõ ràng về bản tính và sứ mạng của người giáo dân rằng: “Tính cách trần thế là riêng biệt và đặc thù của giáo dân, đặc tính đòi họ dấn thân “đem đạo vào đời” theo những thể thức riêng và không thể thay thế.”[7] Sự ưu tư của Giáo hội trong việc làm chứng cho Chúa trước sự biến chuyển không ngừng của thời đại, mỗi cơ chế và hình thái xã hội, mỗi biến cố xảy ra trong thế giới này đều phải được tìm hiểu và làm rõ để có thể nhận ra dấu chỉ thời đại. Lịch sử là dòng chảy mà trong đó, con người không ngừng thích nghi và dấn thân, để sống và tìm ý nghĩa cho hiện hữu của mình. Tuy nhiên, với người Kitô hữu, cũng là thành phần và là tế bào trong xã hội, họ cũng ở trong dòng chảy đó và thực hiện cuộc hiện hữu của mình, nhưng thêm vào đó, căn tính của họ là men, là ánh sáng, họ còn thi hành sứ mạng làm dậy khối bột là thế gian, họ phải chiếu tỏa ánh sáng mà họ đã lãnh nhận từ Nguồn Sáng thật là Thiên Chúa. Thánh Công Đồng Vatican II dạy “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của môn đệ Chúa Kitô”[8], có thể nói đó là cách thức, là đường hướng để người Kitô sống và làm chứng cho Chúa dù ở bất kỳ hoàn cảnh và thời đại nào: cảm thông và mang lấy những ưu tư khắc khoải của con người vào trong mình.

       Để làm chứng cho Chúa Cha, Đức Kitô đã dùng lời rao giảng mà mạc khải, Ngài con dùng những phép lạ để làm chứng và bảo đảm cho lời giảng đó. Về phía sứ mạng của người Kitô hữu, giáo lý và điều răn có vẻ là khô cứng và nặng tính bó buộc đối với những người chưa biết Chúa, vậy họ phải làm gì? Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã nói: “con người ngày hôm nay cần chứng nhân hơn là thầy dạy, nếu họ có tin thầy dạy vì trước đó họ đã là chứng nhân”. Thái độ sống của người Kitô hữu chính là tính khả tín để làm chứng cho Đức Kitô, qua lời nói, hành động và cung cách ứng xử trong các mối tương quan, con người nhận biết sự sống động của giáo lý mà Đức Kitô truyền lại, họ cảm nhận được nơi những người Kitô hữu, chính Đức Kitô đang sống và hoạt động. Những lời nói tốt đẹp, những hành vi đạo đức và sự hy sinh phục vụ vì người khác, tất cả làm toát lên dung mạo của một Thiên Chúa Tình yêu. “Con người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10,45), Đức Kitô đến thế gian để phục vụ con người, phục vụ ơn cứu độ mà Chúa Cha đã đặt để cho nhân loại. Ngài tỏ cho con người thấy Thiên Chúa bằng lời, Ngài phục vụ qua việc cho người mù được thấy, kẻ què được đi, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng, kẻ chết sống lại; Ngài cúi xuống rửa chân cho các môn đệ; Ngài đồng cảm và tha thứ người tội lỗi, vui với người vui – khóc với người khóc,… cuối cùng, sự phục vụ đó viên mãn trên thập giá, hy sinh phục vụ đến quên đi mạng sống mình. Theo Chúa Giêsu, phục vụ làm chúng ta trở nên nhân chứng, để mọi người biết ta là ai vì những gì Đức Kitô đã làm cho chúng ta. Phục vụ làm nên điều gì đó trong chúng ta, vì chúng ta và cho chúng ta để rồi chúng ta có thể làm điều gì đó trong – vì – cho thế giới này.[9] Đặc tính chứng nhân của người tín hữu luôn là yếu tố quan trọng cho sứ mạng đem Chúa cho người khác vì qua đời sống mình, người Kitô hữu cải hóa tâm hồn, sinh hoạt, hoàn cảnh, môi trường cụ thể nơi họ sống.

          Giáo hội thánh thiện, sứ mạng của người Kitô hữu cũng thánh thiện, vì họ là “những vị thánh” qua Bí tích Rửa tội, đón nhận sự thánh thiện của Đức Kitô. Tuy nhiên, phần nào đó người tín hữu chưa ý thức đủ bản chất và sứ vụ của mình, chưa thật sự muốn dấn thân hay đã trở nên ươn lỳ trước sự đòi hỏi tận sâu tâm hồn nhân loại. “Sao các anh đứng đây suốt ngày mà không làm gì hết?”(Mt 20,6) Lời chất vấn của Chúa trước bổn phận trách nhiệm đã trao mà không được thi hành. Thêm vào đó là những ảnh hưởng bởi những tư tưởng lối sống xã hội hiện đại, nhất là nơi người trẻ, họ dễ dàng “đu trend”, làm sao mình không bị tụt lùi khỏi xu hướng, để mình hòa nhập vào sự năng động của thời đại, để rồi một phần trong đó hình thành nên lối sống đạo “cũng cũng” – “đại đại thôi”. Một khía cạnh đáng báo động cho Giáo hội khi mà đúng ra, tự nơi mình các Kitô hữu trẻ phải luôn ý thức mình là sức sống, là nguồn lực, là tương lai và là niềm hy vọng của Giáo hội, nơi tầng lớp này, Giáo hội phải tự soi mình để nhận ra tình trạng đức tin đang bị thử thách bởi những trào lưu và phong cách sống “mì ăn liền”. Để quay trở lại, Giáo hội phải làm chứng Đức Kitô trước tiên là cho con cái của mình, dùng chính đức tin sống động và đời sống luân lý Kitô giáo mà bảo vệ con cái trước mọi tư tưởng và trào lưu phản nghịch nơi thế gian. Như gương Thánh Carlo Arcutis, ngài đã đón nhận đức tin trong Giáo Hội, đón nhân ân huệ và sứ mạng của một người Kitô hữu, rao truyền và làm chứng cho Chúa nơi không gian sống của mình.

          Thời đại nào cũng có những thử thách, ngày hôm nay, chính con người như là một sân khấu công diễn sự tự do của mình, cũng thế, sự thiện và sự ác, bất công và công lý, lo âu và hy vọng vẫn sóng đôi bên nhau, đôi khi quấn chặt lấy nhau. Những triết thuyết, khuynh hướng và lối sống làm lu mờ, xa lánh hoặc thậm chí là từ chối Thiên Chúa. Tuy nhiên, những thứ đó sẽ sụp đổ trước nỗi khắc khoải về ý nghĩa nhân vị, về nhu cầu và khát vọng tâm linh. Và chỉ nơi niềm tin vào Thiên Chúa, trong kho tàng mạc khải, con người mới nhận được câu trả lời trọn vẹn cho nỗi khắc khoải ấy. Nhân tố đặc thù của sứ mạng này chính là từng người tín hữu, họ sống giữa trần gian, từng công việc, bổn phận trong xã hội; giữa những cảnh huống đa dạng của nhân loại trong từng thời đại,… đó là môi trường mà Chúa mời gọi họ dấn thân, đời sống chứng tá của họ như men như muối làm sống dậy và ướp nồng tinh thần Phúc Âm trong lòng nhân loại, tỏ lộ Đức Kitô cho người khác.[10] Để làm được điều đó, tâm – trí người tín hữu phải luôn thức tỉnh: Trí phải nhạy bén với nhu cầu con người thời đại; Tâm phải luôn dư tràn đức ái mãnh liệt và cháy bỏng.có như vậy mới cảm hóa và biến đổi con người cũng như môi trường xung quanh. Thật sự trở nên “Bí tích sống” để nhân loại gặp được Chúa.

           Kết Luận.

         Thánh Grêgôriô Cả nhắc nhở: “Anh em thân mến, hãy lưu ý một chút về cách sống của anh em, hãy nghiêm chỉnh xét xem anh em có phải đã là thợ làm vườn của Chúa không. Mỗi người hãy tự xét việc mình làm và nhận định xem mình có làm việc trong vườn nho của Chúa hay không?”[11]. Mỗi người Kitô hữu, là chi thể trong Thân, có Đức Kitô là đầu, chia sẻ sứ vụ của Ngài, biết ra đi, biết đối thoại cách khiêm tốn và táo bạo, để gặp gỡ và đụng chạm đến con người. Dẫu rằng, một nền văn hóa tiêu thụ cùng với xã hội công nghệ số đang hủy hoại đi những khát vọng về những điều cao quý, lòng ước ao và khắc khoải những chiều kích siêu nhiên. Vượt lên trên điều đó, qua đời sống thường ngày của người Kitô hữu, sự sống siêu nhiên và tình yêu cao cả đã được nhận lãnh từ nơi Thiên Chúa sẽ phát tỏa ra những hành vi mang giá trị phi thường giữa nền văn hóa tầm thường. Nhiệm vụ cao cả của mọi giáo dân là làm cho ý định cứu độ của Thiên Chúa ngày càng lan tới tất cả mọi người ở mọi thời và mọi nơi [12], Thánh Công đông luôn nhắc nhớ cho con cái của mình ý thức về trách nhiệm và sứ vụ, bởi sự cao cả không phải là một chút hy sinh của mình, không phải bởi những ghi nhận của người khác, nhưng trên hết là cùng với Đức Kitô, chúng ta đưa nhân loại về cùng đích là ơn cứu độ. “Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai” câu chủ đề năm mục vụ 2026 của HĐGM Việt Nam như một lời thúc giục đến từng môn đệ của Đức Giêsu, người môn đệ đã được Chúa sai đi, không phải ra đi ở khía cạnh địa lý, nhưng là ra đi khỏi chính con người mình, biết mở cửa tâm hồn mình, đi ra và tương quan, đối thoại, xây dựng và phát triển thế giới bằng những giá trị Kitô giáo, để qua người tín hữu, nhân loại được nhận biết Chân lý và được quy tụ trong Đức Kitô.

Chủng Sinh: Phaolô Đào Trọng Huy

Khóa V – Lớp Thần II

TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ SỐ TRÍCH DẪN 

[1] Mt 5,13-16

[2] DS 1601-1608.

[3] Karl-Heinz Ohlig, KITÔ HỌC QUA CÁC TÁC GIẢ, trang 220.

[4] LG 48.

[5] Tlvd.

[6] STEPHEN B.BEVANS và ROGER P.SCHROEDER, TRUNG THÀNH VÀ THÍCH NGHI – THẦN HỌC TRUYỀN GIÁO CHO HÔM NAY, Lm Đaminh Ngô Quang Tuyên dịch, NXB Tôn Giáo 2020, trang 653.

[7] LG 31.

[8] GS 1.

[9] Kurt Stasak, O.S.B, THẦN HỌC BÍ TÍCH – KHÍ CỤ ÂN SỦNG – CON ĐƯỜNG SỰ SỐNG, Dịch giả Tôma Nguyễn Quốc Minh Tuấn O.P, Học Viện Đa Minh 2019, trang 37.

[10] LG 31.

[11] ĐGH Gioan-Phaolo II, Tông huấn CHRISTIFIDELES LAICI – KITÔ HỮU GIÁO DÂN 30/12/1988, số 2

[12] LG số 33.