MÙA VỌNG, MÙA CỦA HY VỌNG 

MÙA VỌNG, MÙA CỦA HY VỌNG 

        Trên hành trình tiến về Nước Trời chắc hẳn mỗi người đều phải trải qua những vất vả, gian nan, thách thức, thầm chi nguy hiểm cả đến mạng sống, thế nhưng con người vẫn luôn mang cho mình một niềm hy vọng không thể nhạt phai, đây cũng chính là một phần động lực nội tại thúc đẩy họ tiến về phía trước. Bên cạnh đó, mất đi hy vọng cũng giống như mất đi ý lực sinh tồn vậy. Nếu chúng ta có thể thoát khỏi sự giam hãm của sự tối tăm, dù cho có phải trả giá bằng sự đớn đau thì khổ đau mấy ta đều có thể chịu đựng được, đó chính là ý nghĩa của sự hy vọng. Nổi bật hơn hết trong năm phụng vụ chính là mùa vọng, mùa của sự hy vọng. Mùa vọng là khoảng thời gian thiêng liêng dành cho người Kitô hữu dọn mình chuẩn bị tâm hồn cho hai lần Chúa đến: lần thứ nhất, Chúa đến trong lịch sử tại Belem. Lần thứ hai: Ngài sẽ trở lại trong vinh quang của Ngài trong ngày cánh chung và lời mời gọi canh thức nơi các tín hữu. Chính vì thế, nhân đức trụ cột giúp ta sống trọn vẹn trong mùa này là hy vọng.

        Trước hết, Dân Israel đã trông chờ vào lời hứa ban Đấng Cứu Thế để giải thoát họ khỏi vực sâu. Chính sự kiện lịch sử Chúa Giê-su đã đến lần thứ nhất mang lại sự đảm bảo cho mọi lời hứa khác. Sự Giáng Sinh của Chúa là minh chứng sáng giá nhất cho thấy những lời tiên báo của các ngôn sứ nay đã được ứng nghiệm. Chúng ta cùng nhớ đến lời của ngôn sứ Isaia về Đấng Em-ma-nu-el: “Vì vậy, chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu: Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Emmanuel” ( Is 7,14 ). Đây được ví như là lời tiên tri quan trọng nhất trong sách của vị ngôn sứ này và có thể là cả của Cựu Ước nữa, điều này đã biến mọi hy vọng mơ hồ về Đấng Cứu Chuộc ngày càng được xác tín hơn qua sự kiện lịch sử này. Thiên Chúa đã hạ mình xuống, cư ngụ trong thân xác phàm chỉ vì tình yêu, vì yêu thương mà Ngài đã nhập thể để loại bỏ mọi sự hoài nghi về sự quan tâm của Ngài đối với nhân loại. Hơn nữa, niềm hy vọng của nhân loại nay đã được củng cố thêm qua Đức Maria, Mẹ đã đặt trọn niềm hy vọng, tin tưởng vào Thiên Chúa qua một lời hứa tưởng chừng là bất khả thi. Tuy nhiên, hai tiếng “ Xin Vâng” của mẹ đã nói lên tất cả, mẹ đã trở thành mẫu gương, trở thành mẹ của niềm hy vọng vào Đấng Tín Trung. Và để hoàn tất lời hứa cho muôn dân được hưởng ơn cứu độ, Chúa Giê-su đã chịu chết và sống lại, chính sự phục sinh của Chúa là một bảo chứng hy vọng cho chúng ta rằng: “ Chúng ta cũng sẽ được sống lại với Người” như thánh Phaolô đã nói: Nếu Đức Kitô không sống lại thì đức tin của chúng ta sẽ ra vô ích ( 1Cr 15,13).

       Thứ đến, Niềm tin, niềm hy vọng Kitô giáo không chỉ hồi tưởng về quá khứ mà còn là sự mong chờ tràn đầy niềm vui, hạnh phúc về một tương lai viên mãn, đó chính là sự vinh hiển cuối cùng trong lần thứ hai ngự đến của Chúa. Mục đích tối hậu trong mùa vọng là hy vọng hướng tới sự trở lại của Chúa Giê-su, chính Người sẽ đến để xét xử nhân loại, phân biệt chiên với dê, người lành với kẻ dữ. Khi ấy, những đau khổ mà loài người phải chịu sẽ chấm dứt, thay vào đó là cùng hưởng vinh phúc đời đời cùng với Thầy Chí Thánh. Chúng ta nhớ đến lời kêu cầu “ Maranatha, Lạy Chúa, xin hãy đến” (Kh 22,20), hay những người kitô hữu tuyên xưng trong kinh Tin Kính các Thánh Tông Đồ: “ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết”, đấy là những niềm mong chờ mà mỗi người luôn mang theo bên mình. Cùng đích mà mỗi người đang muốn hướng tới trong sự hy vọng là được hưởng đời sống trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa, là Trời Mới Đất Mới, nơi không còn những giọt nước mắt của sự đau khổ nhưng là hạnh phúc ngập tràn chan chứa, nơi sự chết không còn tồn tại nhưng là sự sống vĩnh hằng, nơi không có chỗ cho sự tổn thương nhưng là của sự an ủi của Đấng Tác Tạo. 

        Cuối cùng, chúng ta là những người lữ hành trên hành trình tiến về Nước Trời, nơi mà chúng ta hy vọng không chỉ là ước muốn, là khát khao nhưng còn là sự chuẩn bị tích cực và sự thức tỉnh trong cuộc sống hằng ngày “như ngọn đèn chầu luôn luôn cháy sáng ở trước thiên nhan” ( Hãy tỉnh thức, Lm. Thái Nguyên), đó là sứ điệp mà Chúa mời gọi chúng ta không chỉ riêng trong mùa vọng nhưng còn là mỗi lần tham dự Thánh Lễ chúng ta cũng phải ý thức hơn về bản thân, đặc biệt khi rước Mình Thánh Chúa. Lúc này, người kitô hữu mang trong mình niềm hy vọng tiến gần hơn với sự Thánh Thiện, tiến gần hơn với Nước Trời và tiến gần hơn với bản chất nguyên thuỷ ngay từ thuở sơ khai. Thêm vào đó, khi lãnh nhận ân ban từ Đức Ki-tô, mỗi người cũng cần ý thức đem niềm vui, niềm hy vọng tới cho người khác, kể cả những người tội lỗi, bởi vì họ vẫn có quyền hy vọng được sống, được thoát khỏi vũng lầy mà họ đã sa vào, cao hơn cả là cho họ nhận biết Chúa là Đấng Cứu Thế mà muôn dân vẫn hằng mong đợi.

      Mỗi bước đường chúng ta đi đều mang dáng dấp của sự hy vọng tiến về cùng đích trọn hảo. Những điều đang được mong chờ, những ước vọng đang dần được thắp sáng, những khắc khoải rồi cũng có ngày được vơi đi. Vì thế, mỗi người luôn phải chuẩn bị cho mình những tâm thế từ quá khứ, hiện tại và tiến tới tương lai ngày một tươi sáng trong niềm hy vọng Chúa đến lần thứ nhất, lần thứ hai và đến trong cuộc sống của mỗi người chúng ta.

Chủng sinh: Gioan B. Phạm Văn Quang

Lớp Triết I – Khoá VII