MỐI TƯƠNG QUAN ĐẠO ĐỨC GIỮA TÔI VÀ THA NHÂN THEO NHÃN QUAN TRIẾT HỌC CỦA GABRIEL MARCEL

Con người có thể thực sự sống một cách trọn vẹn mà không mở lòng với người khác? Liệu tôi có thể hiểu biết chính mình nếu không đặt mình trong mối quan hệ với tha nhân? Trong hành trình tìm kiếm ý nghĩa của sự tồn tại, tha nhân xuất hiện không chỉ như một thực thể bên ngoài, mà còn là một “hiện diện” sống động, mời gọi tôi bước vào mối tương giao chân thành. Gabriel Marcel, trong triết học hiện sinh của mình, đặt ra câu hỏi: làm sao để tôi, một con người tự do, có thể dấn thân vào một mối quan hệ với tha nhân mà không xem họ như một “đối tượng” để chiếm hữu? Đây không chỉ là vấn đề của triết học mà còn là lời mời gọi tôi sống đạo đức, yêu thương và tôn trọng, để hành trình thành nhân thực sự trở thành một hành trình làm phong phú cả tôi và người khác.
I. Giá trị nội tại nơi tha nhân khiến tôi phải hành xử đạo đức
- Tha nhân là một “hiện diện”, không phải là “đối tượng”
Khi nói đến tha nhân, tôi không chỉ đơn thuần nói đến một cái gì khác với tôi, nhưng đúng hơn đó là một sự hiện diện trước tôi và đồng vị với tôi. Đó là một huyền nhiệm. Thực vậy, theo cách nói của Gabriel Marcel, tha nhân không phải là một vấn đề cho tôi kiểm soát hay giải quyết, mà là một ngôi vị tự do, một hiện diện độc lập và đồng thời có khả năng tương tác sâu sắc với tôi.[1] Với một nhãn quan hướng về tha nhân như thế, tôi không thể tách mình ra khỏi mối tương quan này mà được mời gọi để đáp lại tha nhân bằng sự tôn trọng và gặp gỡ.
Như thế, trước tha nhân – một sự hiện diện đồng vị như chính tôi, tôi bị đòi buộc không được xem “anh” như một công cụ hay phương tiện, mà như một con người tròn vẹn, một ngôi vị trọn đầy phẩm tính như chính tôi. Thái độ ấy, giúp tôi mỗi ngày một người hơn và có đạo đức hơn, bởi khi trân trọng tha nhân, tôi cũng đang gián tiếp khẳng định và tôn trọng chính mình.
- Tha nhân giúp tôi thoát khỏi cái tôi khép kín để sống đạo đức hơn
Tôi sẽ thực sự trở nên đạo đức duy nhờ chính tôi hay còn bởi điều gì khác? Trả lời cho câu hỏi ấy, Gabriel Marcel có một sự phân biệt rõ ràng giữa “chiếm hữu” và “hiện hữu”. Chiếm hữu thì thuộc về sự vật, không phải là tôi nhưng là hướng về cái tôi có và có quyền sử dụng, nó chỉ là khách thể chơ cứng được tôi quản thủ và bọc kín. Trái lại, “hiện hữu” là quy hướng của chủ thể vươn tới hiện sinh, mà hiện sinh là luôn đi lên, không bám víu và cố hữu.[2] Hiện sinh thực sự là buông bỏ mọi định kiến, mọi phán xét thiên tư. Thay vào đó là một sự nỗ lực vươn lên bằng thái độ tin tưởng và dấn thân. Thế nhưng, tôi – một chủ vị lý tính, không thể tin tưởng hay dấn thân cho một điều gì đó vô định. Điều đó là dành cho “anh”, điều mà tôi nhận ra trong cuộc kinh nghiệm hiện sinh. “Anh” như một huyền nhiệm đòi mời tôi phải mở lòng mình để đối thoại trong sự tin tưởng.[3]
Như vậy, mối quan hệ giữa tôi và tha nhân mời gọi tôi vượt khỏi chính mình, mở lòng đón nhận “anh” với tất cả sự khác biệt và huyền nhiệm, để tìm thấy ý nghĩa hiện sinh ngang qua sự tin tưởng và phục vụ. Vào chính lúc ấy, hành vi của tôi không còn quy ngã và độc đoán, nhưng hướng về “anh – tha nhân”. Chính nhờ anh, hành động của tôi trở nên giá trị và tốt lành. Cũng vì anh, sự tốt lành trong hiện hữu của tôi được tỏ lộ ra bên ngoài thế giới.
II. Tôi tìm kiếm nền tảng để xây dựng mối tương quan đạo đức với tha nhân
- Xây dựng tương quan đạo đức với tha nhân bằng sự dấn thân
Hiện sinh là một hành trình đi lên bằng sự dấn thân trong tự do và có lý tính.[4] Trong kinh nghiệm này, tôi nhận ra sự hiện diện của tha nhân. Tôi phải dấn thân, nhưng không phải cho một vật gì đó vì nó chẳng đáng gì, cũng không phải tôi sẽ dấn thân cho một lý tưởng hay một triết thuyết nào đó vì nó quá trừu tượng và hàm hồ. Tôi cũng không dấn thân cho chính tôi, vì như thế khác gì tự luyến và đóng mình lại. Sau hết, tôi chỉ có thể dấn thân với tha nhân mà thôi, vì tha nhân đồng vị và có thể đáp lại chính tôi.[5]
Sự dấn thân không nhắm đến tha nhân như một khách thể hay một vấn đề, trái lại đó là cuộc gặp gỡ nhân vị. Giữa tôi và tha nhân có một sự liên kết mật thiết. Dấn thân là tôi đáp ứng lời mời gọi, còn anh luôn luôn mời gọi. Trong dấn thân, tôi sẵn sàng mở ra, quên đi chính mình và tự cho đi. Trong một mối tương quan hỗ tương như thế, tha nhân không bao giờ là hiện diện thụ động, nhưng luôn năng động mời gọi. Theo đó, tôi phải có bổn phận tôn trọng, trung thành và sẵn sàng giúp đỡ, nếu không tha nhân sẽ có khả năng bị tôi giản lược và đóng khung. Chỉ khi dấn thân và sẵn sàng sẻ chia như thế, tôi mới thực sự đi vào mối tương quan thâm sâu với tha nhân. Một mối tương quan đạo đức khi nó cùng xây dựng và vun đắp cho một điều tốt đẹp. Tôi và tha nhân sẽ không ngừng cống hiến và trao gửi cho nhau sự dấn thân, nhưng không phải theo lẽ công bằng mà đúng hơn đó là một thái độ, một cung cách của sự đón nhận chân thành.
- Xây dựng tương quan đạo đức qua “đón nhận” sự khác biệt
Trong cuộc kinh nghiệm dấn thân, tôi hướng đến và gặp gỡ tha nhân. Cũng chính lúc ấy, tôi nhìn thấy nơi tha nhân với tất cả những gì họ là, không phải là tôi. Trước thực trạng ấy tôi có nên đón nhận hay tôi được quyền duyệt xét. Thế nhưng, dấn thân đòi hoi sự trung thành và tôn trọng. Quả thế, nếu khi tôi đối xử với tha nhân bằng sự dò xét, phê bình khuyết điểm hay ghi nhận ưu điểm…đó là tôi đang đối tượng hóa tha nhân. Tôi đang giản lượng và chiếm hữu tha nhân nơi tư tưởng của chính mình. Ngược lại, tôi cần phải học cách đón nhận tha nhân như tất cả những gì họ là. Trong cuộc dấn thân, tôi phải mở lòng mình, tự hiến cái tôi, nghĩa là yêu thương và nhìn nhận tha nhân như một chủ thể với sự hiện diện chân thực.
Như vậy, đón nhận không phải là một cái gì đó thụ động, mà là một thái độ tôn trọng sự tự do, phẩm giá và những khác biệt nơi người khác. Đón nhận là một hành vi đạo đức, nơi tôi từ bỏ mọi phán xét hay sự chiếm hữu, thay vào đó, tôi lắng nghe và đồng hành cùng tha nhân một cách trung thành.
- Tình yêu – nền tảng cho tương quan đạo đức giữa tôi và tha nhân
Điều kiện để có được đạo đức và làm phong phú con người, chỉ khi sự dấn thân đưa tôi và tha nhân tới được sự gặp gỡ đích thực trong sự chờ đợi và hy vọng.[6] Thế nhưng, nguồn động lực nâng đỡ tất cả đó phải là tình yêu. Chính tình yêu mới là mối tương quan đạo đức đích thực giữa “tôi” và “anh”.
Thực vậy, “gặp gỡ” là đối thoại với nhau rồi, là cư xử với nhau cách đạo đức. Tuy nhiên, đó mới chỉ là bước dạo đầu của mối tương giao giữa người với người.[7] Trong cuộc gặp gỡ, tôi chờ đợi anh bằng sự chân nhận phẩm vị và cả sự lệ thuộc nơi tôi qua thái độ cầu khẩn. Trong khi cầu khẩn như thế, không phải vì tôi muốn chiếm hữu hay đòi buộc tha nhân, nhưng đúng hơn, đó là vì tôi đang nhìn nhận giá trị nơi “anh”. Thái độ ấy làm cả tôi và tha nhân phải xao xuyến: tôi xao xuyến vì những sự yêu thích mà tôi đang ao ước; tha nhân xao xuyến vì họ biết họ quan trọng với tôi. Trong một cảnh huống như thế, giữa tôi và tha nhân đang bắt đầu một tình yêu. Đã hẳn, mỗi con người là một sự duy nhất, nghĩa là tôi thiếu cái mà tôi yêu mến nơi anh và ngược lại, vì tình yêu có tính hỗ tương. Hai người càng yêu và trân trọng nhau, càng nhìn rõ được những điều cao quý của người hiện diện, đồng thời càng thấy rõ những gì mình đang thiếu.[8] Trong tình yêu, tôi nhận ra giá trị cao quý của tha nhân, học cách hy sinh và phục vụ, và từ đó làm phong phú ý nghĩa của cuộc sống và giá trị đạo đức trong mối tương quan giữa “chúng ta”.
- Mối tương quan đạo đức với tha nhân thúc bách tôi sống tận căn ơn gọi dâng hiến
Nói đến ơn gọi dâng hiến, đã hẳn đó là hồng ân nhưng không đến từ Thiên Chúa. Tuy nhiên, xét về hiệu sủng của ơn gọi, nó không chỉ dành riêng cho một ai đó, nhưng là cho cả nhân loại. Nói như thế có nghĩa là, ơn gọi thánh hiến xét ở chiều ngang là dành cho tha nhân ngang qua tôi. Tôi với lời mời thần linh được sinh ra và trở nên như khí cụ để Thiên Chúa yêu thương mọi người, mà theo cách nói của mẹ thánh Teresa Calcutta: “Chúng ta đói khát Thiên Chúa, bởi vì chúng ta được tạo dựng cho tình yêu ấy. Chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh của Ngài. Chúng ta được tạo dựng để yêu và để được yêu.” Đây là lý do chúng ta sống và trở nên công cụ của tình yêu. Như vậy, trong ơn gọi dâng hiến, tha nhân cũng mời gọi tôi phải sống đạo đức với họ bằng lối sống tận căn ơn gọi của mình.
Ơn gọi dâng hiến là lời mời gọi tôi vượt qua ngã vị ích kỷ để sống một cách trọn vẹn trong tình yêu và phục vụ tha nhân, vì “ơn gọi của tôi là tình yêu” (Teresa Hài Đồng Giêsu). Để được xem là sống đạo đức với tha nhân nơi ơn gọi này, tôi cần hy sinh, không phải như một sự mất mát, mà như một hành động yêu thương, nơi tôi sẵn sàng từ bỏ lợi ích cá nhân vì hạnh phúc của người khác.
Phục vụ và dấn thân cho tha nhân chính là một phần cách thế tôi thực hiện ơn gọi đời mình, bằng việc đặt họ làm trung tâm trong mỗi hành động và thái độ của mình, với sự tôn trọng và khiêm nhường. Bên cạnh đó, tôi cần nuôi dưỡng niềm tin tưởng, sự trung thành và hy vọng vào Đấng đã đưa tôi vào trong mối tương quan này, những yếu tố giúp tôi bền bỉ dấn thân, ngay cả khi đối diện với khó khăn. Cuối cùng, chính tình yêu là động lực cốt lõi, khiến sự dâng hiến của tôi không phải là một nghĩa vụ, nhưng là một sự đáp trả tự căn tính, là tình yêu có sức thần hóa, làm phong phú mối tương quan giữa tôi và tha nhân, cũng như làm sáng tỏ giá trị tốt đẹp Chúa muốn thể hiện nơi tôi.
Kết Luận
Khi soi chiếu vào căn tính hiện hữu và giá trị nội tại, tôi nhận ra tha nhân không phải là một “đối tượng” để tôi chiếm hữu hay kiểm soát, mà là một “hiện diện”, một ngôi vị tự do và độc lập. Sự hiện diện này mời gọi tôi phải tôn trọng và đáp lại bằng thái độ tôn quý. Nhận ra giá trị cao quý nơi tha nhân cũng là cách tôi khẳng định và làm phong phú giá trị của chính mình. Khi có một nhãn quan như thế, tôi không thể dửng dưng hay chối bỏ sự mời gọi; đối lại, tôi phải đáp trả nó bằng một hành trình dấn thân và gặp gỡ trong yêu thương. Do đó, sự dấn thân, thái độ đón nhận sự khác biệt và tình yêu là những phương cách thiết yếu để tôi xây dựng mối quan hệ đạo đức với tha nhân. Dấn thân giúp tôi mở lòng và tự hiến trong cuộc gặp gỡ chân thành. Đón nhận sự khác biệt là biểu hiện của sự tôn trọng phẩm giá, tự do và hiện diện chân thực của tha nhân. Tình yêu chính là động lực nền tảng, giúp tôi vượt qua những giới hạn của bản thân để hướng đến một mối tương quan đạo đức trọn vẹn.
Như vậy, trên tiến trình thành nhân, tôi được mời gọi mở ra và hướng đến tha nhân khởi đi bằng một ánh nhìn chân quý, ánh nhìn của siêu việt, của Thiên Chúa. Chỉ nơi ánh nhìn ấy, tha nhân mới không bị tôi chiếm hữu hay bị dục vọng của tôi chi phối; tha nhân được xuất hiện như chính họ là. Tôi và tha nhân cùng nhau tiến về sự tốt lành trong tình yêu. Tình yêu ấy được tôi quảng diễn bằng sự dấn thân chân thành và tận căn qua ơn gọi dâng hiến – một ơn sủng thiên ban để cho thế gian này ngày thêm tốt đẹp.
Chủng sinh: Phêrô Trịnh Văn Hoàng
Lớp: Thần II – Khóa V
[1] Nguyễn Trọng Viễn OP, Nguyễn Thịnh Phước SDB, Triêt Sử Hiện Đại Tây Phương, Học Viện Don Rua Đà lạt, 2010, 219-220.
[2] Trần Thái Đỉnh, Triết Học Hiện Sinh, 268.
[3] Ibid, Triêt Sử Hiện Đại Tây Phương, 219-220.
[4] Ibid, Triêt Sử Hiện Đại Tây Phương, 218.
[5] Ibid,220.
[6] Triêt Sử Hiện Đại Tây Phương, 222.
[7] Ibid, Triết Học Hiện Sinh, 290.
[8] Ibid, 290-291.
BÀI VIẾT LIÊN QUAN