CÁC BÍ TÍCH

CÁC BÍ TÍCH

 

Bí Tích là gì?

Bí tích là dụng cụ của ân sủng thánh hoá, biến đổi và thần hoá con người. Cho dù Thiên Chúa có thể tiếp cận, gặp gỡ và thông truyền ân sủng cho con người bằng những cách thức khác nhau, nhưng để thích nghi với bản chất tâm sinh lý và vật chất của con người, Ngài đã muốn đến với con người qua hình thức khả giác và vật chất của các bí tích. Quả thực, các bí tích là những phương tiện thông thường để thông ban ân sủng thánh hoá. Nói cách khác, sự sống thần linh đến với con người cách thông thường và dễ dàng nhất, là qua các dấu chỉ bí tích. Vì thế, các bí tích không chỉ là những dấu chỉ bên ngoài của ân sủng nhận được qua đức tin, cũng không chỉ là những dấu chỉ chắc chắn của việc tuyên xưng Kitô giáo, nhưng chúng là những dấu chỉ hữu hiệu của ân sủng.

Bí Tích là một dấu chỉ hữu hình của ân sủng vô hình, được thiết lập vì sự công chính hoá của chúng ta. Bí Tích là một dấu chỉ hữu hiệu của ân sủng, được thiết lập bởi Đức Kitô. Bí Tích là một dấu chỉ khả giác, được thiết lập vĩnh viễn bởi chính Đức Kitô, để diễn tả và ban ơn thánh hoá. Bí Tích là một dấu chỉ bề ngoài của ân sủng bề trong, được thiết lập bởi Đức Kitô, để ban ân sủng cho linh hồn chúng ta. Chúng ta có thể tổng hợp lại thành một định nghĩa như sau về Bí Tích: Bí Tích là một dấu chỉ khả giác bề ngoài, được thiết lập vĩnh viễn bởi chính Đức Kitô, để diễn tả và ban ơn thánh hoá cho con người. 

“Toàn bộ đời sống phụng vụ của Hội Thánh xoay quanh Hy tế Thánh Thể và các Bí tích. Trong Hội Thánh có bảy Bí tích: Rửa tội, Thêm sức hay Xức dầu, Thánh Thể, Hòa giải, Xức dầu cho người bệnh, Truyền chức thánh và Hôn nhân”[1].

Mầu nhiệm Vượt Qua và các Bí tích

Sự Phục sinh của Đức Kitô tạo thành một thể thống nhất với sự chết của Người trên Thập giá. Cũng như qua cuộc thương khó và cái chết của Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã xóa bỏ tội lỗi và làm hòa thế giới với Người, thì cũng vậy, qua sự phục sinh của Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã khai mở sự sống mới, sự sống của thế giới mai sau, và làm cho con người có thể tham dự vào sự sống thần linh ấy. Nhờ ơn Chúa Thánh Thần, Chúa ban cho chúng ta được tham dự vào sự sống mới của sự Phục sinh của Người. Mầu nhiệm vượt qua vì thế là yếu tố trung tâm của đức tin chúng ta. Đó luôn là lời loan báo đầu tiên của mọi tông đồ: “Đức Giêsu Kitô yêu thương anh em, Người đã hy sinh mạng sống để cứu độ anh em, và bây giờ Người sống bên cạnh anh em mỗi ngày để soi sáng, củng cố và giải thoát anh em”[2]. Đây là lời loan báo đầu tiên vì đó là thông điệp chính, cần được nghe lại theo nhiều cách, và cũng luôn phải được loan báo lại bằng nhiều hình thức khác nhau.

Công trình cứu độ mà chúng ta loan báo không bị giới hạn trong quá khứ, vì “khi đến giờ của Người (Ga 13,1; 17,1),  Đức Giêsu chết, được mai táng, phục sinh từ cõi chết và ngồi bên hữu Chúa Cha “một lần cho mọi lần” (Rm 6,10; Dt 7,27; 9,12). Đây là một sự kiện có thực, xảy ra trong lịch sử của chúng ta, nhưng là duy nhất. Tất cả các sự kiện khác xảy ra một lần rồi qua đi, chìm vào quá khứ. Mầu nhiệm vượt qua của Đức Kitô, ngược lại, không thể chỉ nằm trong quá khứ, vì qua cái chết của Người, Người đã phá hủy sự chết, và tất cả những gì Đức Kitô là, tất cả những gì Người đã làm và chịu đựng cho mọi người đều thuộc về đời sống vĩnh cửu của Thiên Chúa và vượt lên trên mọi thời gian, được hiện diện ngay lúc này. Sự kiện Thập giá và Phục sinh vẫn tồn tại và thu hút tất cả về phía Sự Sống”[3].

Cùng lúc đó, mầu nhiệm vượt qua quan trọng đến mức Đức Giêsu chỉ trở về với Chúa Cha sau khi để lại cho chúng ta phương tiện để tham dự như thể chúng ta đã hiện diện trong đó. Mỗi tín hữu đều có thể tham dự và hưởng được hoa trái một cách vô tận[4]. Phương tiện đó chính là Phụng vụ thánh: đặc biệt là hy tế Thánh Thể và các Bí tích[5].

Như Giáo lý Hội Thánh Công giáo nhắc nhở: “Ngồi bên hữu Chúa Cha và ban phát Chúa Thánh Thần trong Thân thể là Hội Thánh, Đức Kitô hiện nay hoạt động qua các Bí tích, do chính Người thiết lập để ban ơn”[6]. Các Bí tích như những “Sức mạnh phát xuất” từ Thân thể Đức Kitô ( Lc 5,17; 6,19; 8,46), luôn sống động và ban sự sống, là hành động của Chúa Thánh Thần đang hoạt động trong Thân thể là Hội Thánh, các Bí tích là “tác phẩm tuyệt vời của Thiên Chúa” trong Giao ước mới và vĩnh cửu[7].

Hội Thánh tuyên xưng và cử hành Mầu nhiệm Đức Kitô trong phụng vụ để các tín hữu có thể sống và làm chứng về mầu nhiệm ấy trong thế giới. Từ Cộng đoàn tiên khởi tại Giêrusalem đến ngày Đức Kitô quang lâm, Hội Thánh của Thiên Chúa trung thành với đức tin tông đồ đều cử hành cùng một Mầu nhiệm vượt qua ở mọi nơi. Mầu nhiệm được cử hành trong phụng vụ là một, nhưng hình thức cử hành đa dạng.

Quả thật, sự phong phú sâu sắc của Mầu nhiệm Đức Kitô lớn đến nỗi không có truyền thống phụng vụ nào có thể diễn tả hết, nên lịch sử ra đời và phát triển các nghi lễ này là minh chứng cho sự bổ sung tuyệt vời. Khi nói về cách cử hành từng Bí tích, ta sẽ thấy “Hội Thánh trong cùng một khu vực địa lý và văn hóa đã cử hành Mầu nhiệm Đức Kitô qua các hình thức đặc thù, mang dấu ấn văn hóa riêng”[8].

Bản chất các Bí tích

Trong Hội Thánh có bảy Bí tích: Rửa tội, Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải, Xức dầu cho người bệnh, Truyền chức thánh và Hôn nhân.  Bảy Bí tích bao phủ tất cả các giai đoạn và những thời điểm quan trọng trong đời sống người Kitô hữu: chúng sinh ra và nuôi dưỡng, chữa lành và gửi đi làm sứ vụ cho đời sống đức tin của các tín hữu. Vì vậy có một sự tương đồng nhất định giữa các giai đoạn của đời sống tự nhiên và các giai đoạn của đời sống đức tin. Các Bí tích tạo thành một tổng thể có trật tự, với Thánh Thể là trung tâm, vì Thánh Thể chứa đựng chính Tác giả của các Bí tích[9].

Giáo lý Hội Thánh Công giáo định nghĩa các Bí tích như sau: “Các Bí tích là các dấu chỉ hữu hiệu của ân sủng, do Đức Kitô thiết lập và trao phó cho Hội Thánh, qua đó sự sống thần linh được ban phát cho chúng ta. Các nghi thức hữu hình trong đó các Bí tích được cử hành, biểu thị và thực hiện các ơn riêng biệt của mỗi Bí tích. Như vậy, các Bí tích là những dấu chỉ có thể cảm nhận được (lời nói và hành động), phù hợp với nhân tính hiện tại của chúng ta”[10].

Nếu hỏi các Bí tích là dấu chỉ của điều gì, ta có thể khẳng định, chúng là dấu hiệu của ba yếu tố: nguyên nhân ân sủng là cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô; kết quả của ân sủng; và mục đích của sự thánh hóa là vinh quang đời đời. Bí tích là dấu chỉ nhắc nhớ điều đã xảy ra trước đó, đó là cuộc thương khó của Đức Kitô; làm nổi bật điều được thực hiện nơi chúng ta nhờ cuộc thương khó của Người, đó là ân sủng; và báo trước, nghĩa là loan báo trước vinh quang mai sau[11].

Dấu chỉ bí tích riêng của mỗi Bí tích được tạo thành bởi các yếu tố vật chất: nước, dầu, bánh, rượu và các cử chỉ của con người: rửa, xức dầu, đặt tay, gọi là chất thể; cùng với lời nói được thừa tác viên cử hành Bí tích đọc lên, gọi là mô thể. Như Giáo lý nhấn mạnh, mỗi cử hành bí tích là cuộc gặp gỡ giữa con người với Thiên Chúa, trong Đức Kitô và Chúa Thánh Thần, và cuộc gặp gỡ này được thể hiện qua đối thoại bằng hành động và lời nói[12].

Trong hai thành phần cấu thành nên Dấu Chỉ Bí Tích là Chất thể và Mô thể thì, Mô thể (tức lời đọc hay công thức bí tích) chiếm phần quan trọng hơn. Bởi vì, nếu không có Mô Thể thì vai trò của Chất thể trong bí tích sẽ trở nên hoàn toàn tối nghĩa mông mung, không hiểu Chất thể ấy biểu thị và diễn tả điều gì. Vì thế, chính Mô thể quyết định bản chất và ý nghĩa của Chất thể. Chất thể và Mô thể là 2 yếu tố cấu thành dấu chỉ Bí Tích và là bản chất của Bí Tích. 

Thêm vào đó, trong phụng vụ các Bí tích, có phần không đổi (điều Đức Kitô thiết lập liên quan đến bản chất của bí tích), và những phần có thể được Hội Thánh điều chỉnh cho phù hợp lợi ích tín hữu và làm tăng sự tôn kính đối với các Bí tích, tùy theo hoàn cảnh địa phương và thời gian. Không được quên rằng, không một nghi thức bí tích nào có thể bị thay đổi hoặc thao túng theo ý muốn của thừa tác viên hay cộng đoàn. Ngay cả quyền tối cao trong Hội Thánh cũng không được tự ý thay đổi phụng vụ, mà chỉ có thể thay đổi trong sự vâng phục đức tin và tôn kính mầu nhiệm phụng vụ[13].

Bí tích và ân sủng

 

 Ân sủng là ân huệ, sự trợ giúp của Thiên Chúa ban cho chúng ta để đáp lại tiếng gọi của Người: trở thành con Thiên Chúa ( Ga 1,12-18), tham dự vào bản tính thần linh (2 Pr 1,3-4), sự sống đời đời ( Ga 17,3). Ân sủng là sự tham dự vào sự sống của Thiên Chúa, đưa chúng ta vào sự thân mật trong đời sống Ba Ngôi: qua Bí tích Rửa tội, người Kitô hữu tham dự vào ân sủng của Đức Kitô, Đầu của Thân thể Người. Như một “dưỡng tử”, người ấy nay có thể gọi Thiên Chúa là “Cha”, trong hiệp thông với Con Một. Theo nghĩa này, những người chịu Rửa tội đã đi từ sự chết đến sự sống, từ xa lìa Thiên Chúa đến ân sủng của sự công chính hóa, đến sự làm con Thiên Chúa. Chúng ta là những người con được Thiên Chúa yêu thương nhờ quyền năng của mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô, qua sự chết và phục sinh của Người.

Ân sủng chúng ta nhận được là tặng phẩm của Thiên Chúa ban sự sống của Người được Chúa Thánh Thần đổ vào linh hồn chúng ta để chữa lành tội lỗi và thánh hóa chúng ta: đó là ân sủng thần hóa, được nhận trong Bí tích Rửa tội. Như Giáo lý khẳng định, ân sủng là một tặng phẩm thường xuyên, một tình trạng ổn định và siêu nhiên làm hoàn thiện linh hồn, giúp linh hồn có khả năng sống với Thiên Chúa và hành động vì tình yêu của Người[14].

Tất cả các Bí tích ban ơn thánh hóa cho những ai không cản trở chúng. Ơn này là tặng phẩm của Thánh Thần, Người làm cho chúng ta được công chính hóa và thánh hóa. Ngoài ra, các Bí tích còn ban ơn đặc biệt riêng biệt cho mỗi Bí tích một sự trợ giúp thần linh cụ thể để đạt được mục đích của Bí tích đó.

Chúng ta không chỉ nhận được ơn thánh hóa, mà còn nhận chính Chúa Thánh Thần; thực vậy, ân sủng trước hết và chủ yếu là tặng phẩm của Thánh Thần, Người làm cho chúng ta được công chính hóa và thánh hóa. Do đó, chính qua các Bí tích của Hội Thánh mà Đức Kitô ban Thánh Thần và ơn Thánh hóa cho các thành viên trong Thân thể Người. Quả thực, hoa trái của đời sống bí tích là Chúa Thánh Thần thánh hóa các tín hữu bằng cách liên kết họ sống động với Đức Kitô[15].

Ba Bí tích Rửa tội, Thêm sức và Truyền chức thánh, ban một dấu ấn gọi là ấn tín bí tích, đó là một dấu ấn thiêng liêng không thể xóa trên linh hồn, qua đó người Kitô hữu tham dự vào tư cách tư tế của Đức Kitô và thuộc về Hội Thánh theo nhiều trạng thái và chức năng khác nhau. Dấu ấn bí tích tồn tại mãi mãi trong người Kitô hữu. Vì thế, ba Bí tích này không thể được tái cử hành.

Các bí tích có mục đích thánh hóa con người, xây dựng Thân Thể Chúa Kitô, và sau cùng là thờ phượng Thiên Chúa. Tuy nhiên, là những dấu chỉ, các bí tích còn giữ vai trò giáo huấn nữa. Không những các bí tích giả thiết phải có đức tin, mà còn dùng lời nói và sự vật để nuôi dưỡng, củng cố và diễn tả đức tin đó. Do đó, được gọi là các bí tích đức tin[16].

Hiệu lực của các bí tích

 

Các bí tích có hiệu lực vì chính Đức Kitô đang hoạt động trong chúng; chính Người là Đấng rửa tội, chính Người là Đấng tác động trong các bí tích để trao ban ơn nghĩa mà bí tích biểu thị. Quả thật, các bí tích thực hiện một cách hiệu quả ơn nghĩa mà chúng biểu thị nhờ vào hành động của Đức Kitô và bởi quyền năng của Thánh Thần.

Hiệu quả bí tích được tạo ra ex opere operato ( DO SỰ, Bí tích có hiệu quả nhờ công trình cứu độ của Chúa Kitô đã được hoàn tất một lần là đủ). Nghĩa là, bí tích phát sinh hiệu quả ân sủng không dựa trên sự công chính của người ban hay người nhận, mà bởi quyền năng của Thiên Chúa. Do đó, ngay khi một bí tích được cử hành đúng theo ý định của Hội Thánh, quyền năng của Đức Kitô và Thánh Thần Người hoạt động trong bí tích đó và qua bí tích đó, không phụ thuộc vào sự thánh thiện cá nhân của người thực hiện[17]. Người thực hiện bí tích phục vụ cho Đức Kitô và Hội Thánh, nên được gọi là thừa tác viên của bí tích; không thể là bất kỳ tín hữu Kitô nào, mà thường cần có sự liên kết đặc biệt với Đức Kitô Linh Mục mà bí tích Truyền Chức ban cho.

Hiệu lực của các bí tích xuất phát từ chính Đức Kitô, Đấng hoạt động trong các Bí tích. Tuy nhiên, hoa trái của các bí tích cũng tùy thuộc vào thái độ của người lãnh nhận: càng có đức tin, sự sám hối và ý hướng lãnh nhận, thì các kết quả của ơn nghĩa nhận được càng phong phú.

Các Bí tích chỉ là nguyên nhân dụng cụ (cause instrumentale) của nguyên nhân chính là Thiên Chúa (cause principale). Các Bí tích mang lại hiệu quả không nhờ sự công chính của người trao ban hay người lãnh nhận, nhưng nhờ quyền năng của Chúa.

 

                                                                    Linh mục Giuse Phan Cảnh

                                                         ĐCV Thánh Phaolo Lê Bảo Tịnh Thanh Hóa

 

[1] Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 1113.

[2]  Pape François, Evangelii Gaudium, no 164.

[3] Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 1085.

[4] Saint Jean Paul II, Ecclesia de Eucharistia, no 11.

[5] Concile Vatican II, Sacrosanctum Concilium, no 6.

[6] Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 1084.

[7] Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 1116.

[8] Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 1202.

[9] Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 1211.

[10] Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 1131,1084.

[11] Saint Thomas d’Aquin, Summa Theologiae, III, q. 60, a.3

[12] Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 1153.

[13]Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 1125.

[14]Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 2000.

[15] Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 1129.

[16] Concile Vaticano II, Sacrosanctum Concilium, no 59 – 61.

[17] Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 1128.